Trả lời nhanh: Luật có một danh sách đầy đủ các loại văn bằng, chứng chỉ mà cơ sở giáo dục nghề nghiệp được cấp. Đọc danh sách ấy là biết ngay tấm chứng chỉ sư phạm đứng ở đâu. Từ 01/01/2026, hệ giáo dục nghề nghiệp có bốn chức danh giảng dạy theo Điều 21. Xác định đúng chức danh của mình rồi mới tra danh sách chứng chỉ, vì mỗi trình độ một danh sách. Ở An Giang, không có ngoại lệ riêng nào về điều kiện giảng dạy.
Trước khi hỏi học phí thì hỏi phạm vi
Trước khi bàn tới chương trình học, nên tách hai câu hỏi. Tấm giấy này có căn cứ hay không, và nó mở cửa vào đâu. Câu thứ nhất có câu trả lời rõ. Câu thứ hai mới là chỗ phần lớn người học hiểu thiếu. Ba tấm giấy, ba vai trò. Hỏi điểm nào, khoản nào, điều nào. Một dòng trong danh sách, không hơn.
Chứng chỉ được công nhận đáp ứng tiêu chuẩn về năng lực sư phạm dạy trình độ trung cấp quy định tại Thông tư này bao gồm các chứng chỉ sau trở lên: a) Chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm dạy trình độ cao đẳng, trình độ trung cấp; Chứng chỉ sư phạm dạy nghề dạy trình độ trung cấp nghề, cao đẳng nghề; Chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm dạy nghề.
Danh sách chín tấm chứng chỉ tại Thông tư 24/2026/TT-BGDĐT.
Hai danh sách khác nhau cho hai trình độ
Cách đọc an toàn là xác định trước mình sẽ dạy trình độ nào, rồi mới tra danh sách tương ứng. Đọc ngược lại thì rất dễ mua nhầm một tấm giấy dừng ở nửa đường. Hai danh sách, không phải một. Danh sách đóng, không phải gợi ý. Trung cấp không tự động sang cao đẳng.
Chứng chỉ được công nhận đáp ứng tiêu chuẩn về năng lực sư phạm dạy trình độ cao đẳng quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 6, điểm d khoản 2 Điều 7 và điểm d khoản 2 Điều 8 Thông tư này bao gồm các chứng chỉ sau trở lên: Chứng chỉ sư phạm dạy nghề dạy trình độ trung cấp nghề, cao đẳng nghề; Chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm dạy trình độ cao đẳng, dạy trình độ trung cấp; Chứng chỉ sư phạm dạy nghề; Chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm dạy trình độ cao đẳng; Chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giảng viên đại học, cao đẳng; Chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giảng viên trong cơ sở giáo dục đại học.
Trích Thông tư 25/2026/TT-BGDĐT, phần liệt kê chứng chỉ được công nhận cho trình độ cao đẳng.
| Nhóm | Căn cứ | Phạm vi được công nhận |
|---|---|---|
| Sáu tấm nhóm trên | điểm a khoản 7 Điều 13 Thông tư 24/2026/TT-BGDĐT | trung cấp, và cả sáu đều có mặt trong danh sách cao đẳng |
| Ba tấm nhóm dưới | điểm b khoản 7 Điều 13 Thông tư 24/2026/TT-BGDĐT | chỉ trung cấp |
| Danh sách của cao đẳng | khoản 6 Điều 9 Thông tư 25/2026/TT-BGDĐT | sáu tấm, trùng với nhóm trên |
| Danh sách của sơ cấp | khoản 8 Điều 13 Thông tư 24/2026/TT-BGDĐT | rộng hơn, gồm cả nhóm của trung cấp |

Bộ chuẩn nghề nghiệp của hệ giáo dục nghề nghiệp nằm ở hai văn bản cùng ngày 09/4/2026. Thông tư 24/2026/TT-BGDĐT lo nhánh sơ cấp và trung cấp, Thông tư 25/2026/TT-BGDĐT lo nhánh cao đẳng. Cấu trúc hai bản giống nhau tới từng khoản, chỉ đổi tên chức danh. Chỗ chênh nằm ở ba tấm của điểm b khoản 7 Điều 13, tức chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm dạy trình độ trung cấp, chứng chỉ bồi dưỡng sư phạm bậc 2 và chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm giáo viên trung cấp chuyên nghiệp.
Ai được miễn hẳn vế này
Điều đáng chú ý là chữ phù hợp với trình độ giảng dạy. Năng lực sư phạm ở đây gắn với một trình độ cụ thể, chứ không phải một khả năng chung chung dùng cho mọi cấp học. Giấy là cách chứng minh thôi. Gắn với một trình độ cụ thể. Miễn cho người học ngành sư phạm.
Giảng viên, giáo viên quy định tại khoản 1 Điều này nếu không tốt nghiệp ngành đào tạo giáo viên thì phải có năng lực sư phạm phù hợp với trình độ giảng dạy.
Nguyên văn khoản 3 Điều 22 Luật Giáo dục nghề nghiệp số 124/2025/QH15 ngày 10/12/2025.
Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định bằng cử nhân hoặc văn bằng trình độ tương đương trở lên một số ngành đào tạo của giáo dục đại học được dạy thực hành; năng lực sư phạm và năng lực thực hành nghề của giảng viên, giáo viên; chương trình bồi dưỡng năng lực sư phạm và khung chương trình bồi dưỡng năng lực thực hành nghề; việc đánh giá, công nhận năng lực sư phạm, năng lực thực hành nghề; tiêu chuẩn cơ sở thực hiện bồi dưỡng và đánh giá.
Khoản 6 Điều 22 Luật Giáo dục nghề nghiệp số 124/2025/QH15, phần giao việc cho Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Quyển luật gốc của mảng này là Luật Giáo dục nghề nghiệp số 124/2025/QH15, Quốc hội thông qua ngày 10 tháng 12 năm 2025 và có hiệu lực từ ngày 01/01/2026. Khoản 6 Điều 22 giao Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định chương trình bồi dưỡng năng lực sư phạm, việc đánh giá và công nhận năng lực ấy, cùng tiêu chuẩn cơ sở thực hiện bồi dưỡng và đánh giá. Tới ngày 20/8/2026 chưa tra được văn bản nào ban hành ba nhóm nội dung đó. Quyền và nghĩa vụ của giảng viên, giáo viên cơ hữu thì theo Luật Nhà giáo, quy định tại khoản 1 Điều 23.
Bốn vai giảng dạy trong hệ giáo dục nghề nghiệp
Bốn vai, bốn chương trình, bốn bộ chuẩn nghề nghiệp. Cấu trúc này khiến việc tra cứu rõ ràng hơn hẳn trước, với điều kiện người tra biết mình đứng ở đâu. Trường nào không quyết định vai nào. Bốn vai, chia theo chương trình. Mỗi vai một bộ chuẩn.
Giảng viên, giáo viên quy định tại khoản 1 Điều này bao gồm: giảng viên và giáo viên cơ hữu, giảng viên đồng cơ hữu, giảng viên và giáo viên hợp đồng toàn thời gian sau khi nghỉ hưu, giảng viên và giáo viên thỉnh giảng.
Điều 21 Luật Giáo dục nghề nghiệp số 124/2025/QH15, phần phân vai giảng dạy.
Khoản 1 Điều 21 đứng trước đó gọi tên bốn vai theo chương trình được phân công giảng dạy, gồm giảng viên cao đẳng, giáo viên trung học nghề, giáo viên trung cấp và giáo viên sơ cấp. Điều 21 vì thế là điều phải đọc trước. Định vị mình trước đã. Hỏi mình dạy chương trình gì.

Vai thứ năm nằm ngoài bốn chức danh
Người đang hướng dẫn tay nghề trong nhà máy nên đọc kỹ khoản này trước khi tìm lớp. Có thể vai của họ đã được luật xếp vào nhóm riêng với bộ tiêu chuẩn riêng. Chế độ do cơ sở quy định. Hai cụm từ, hai thứ khác nhau. Đọc khoản 4 trước khi tìm lớp.
Người dạy nghề là nhân sự khác theo quy định của Luật Giáo dục thực hiện nhiệm vụ giảng dạy, hướng dẫn thực hành tại doanh nghiệp, hợp tác xã để thực hiện các chương trình giáo dục nghề nghiệp.
Định nghĩa người dạy nghề tại Luật Giáo dục nghề nghiệp số 124/2025/QH15.
Có một cách kiểm khác cũng nhanh. Khoản 3 Điều 6 nêu đủ những gì cơ sở được cấp cho người học, từ bằng cao đẳng, bằng trung cấp, bằng trung học nghề cho tới chứng chỉ sơ cấp và chứng chỉ đào tạo. Không có dòng nào là chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm, vì tấm đó thuộc về người dạy chứ không thuộc về người học. Vai này nằm ngoài bốn chức danh. Nơi làm việc là chỗ phân biệt.
Hai tên gọi cho hai nhánh trình độ
Hai vế nằm trong cùng một khoản, cách nhau một dấu chấm phẩy trong văn bản gốc. Đọc lướt thì rất dễ gộp chúng làm một. Đọc hết khoản rồi hãy kết luận. Một nửa yêu cầu vẫn là một nửa. Vế sau không có ngoại lệ.
Giáo viên trung cấp hạng III, hạng II và hạng I phải có năng lực sư phạm dạy trình độ trung cấp (đối với giáo viên không tốt nghiệp ngành đào tạo giáo viên); có chứng chỉ bồi dưỡng chuẩn nghề nghiệp giáo viên trung cấp. Việc đánh giá, công nhận năng lực sư phạm thực hiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Trích Thông tư 24/2026/TT-BGDĐT, phần đòi hai thứ khác nhau trong cùng một khoản.
Nhánh cao đẳng có cấu trúc y hệt. Điểm đ khoản 2 Điều 6 Thông tư 25/2026/TT-BGDĐT đòi năng lực sư phạm dạy trình độ cao đẳng, điểm e ngay sau đó đòi chứng chỉ bồi dưỡng chuẩn nghề nghiệp giảng viên cao đẳng. Cả ba bậc của nhánh này đều chịu hai điểm ấy. Hai vế, không phải một. Chương trình thứ hai chưa có.
Ba khoản của cùng một điều
Mốc thứ hai liên quan tới những tấm giấy đã cấp theo hệ văn bản cũ của ngành lao động. Ngày cấp ghi trên giấy quyết định tấm ấy còn được xác định tương đương hay không. Ba mốc, ba nhóm người. Giữ lại quyết định tuyển dụng. Đồng hồ thứ ba chưa chạy.
Trường hợp chưa có chứng chỉ bồi dưỡng quy định tại khoản 1 Điều này thì phải hoàn thiện đáp ứng yêu cầu về chứng chỉ bồi dưỡng chuẩn nghề nghiệp giáo viên sơ cấp hoặc giáo viên trung cấp trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày chương trình bồi dưỡng chuẩn nghề nghiệp giáo viên sơ cấp, giáo viên trung cấp có hiệu lực thi hành.
Thời hạn 12 tháng quy định tại Thông tư 24/2026/TT-BGDĐT.
Ba con số của điều khoản chuyển tiếp là 09/4/2026, 31/12/2026 và 12 tháng. Mốc đầu chia người trong nghề thành nhóm được miễn và nhóm phải làm. Mốc giữa quyết định một tấm giấy cũ còn được tính tương đương hay không. Còn thời hạn cuối tính từ ngày chương trình bồi dưỡng chuẩn nghề nghiệp có hiệu lực, nên tới nay vẫn chưa khởi động.

Bậc thợ và chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia
Có một cửa vào không đi qua bất kỳ tấm chứng chỉ sư phạm nào. Nó dành cho người có tay nghề, và luật ghi ngưỡng rất cụ thể. Tay nghề cũng là căn cứ. Hai vế vẫn phải chứng minh riêng. Cao đẳng cao hơn một bậc.
| Trình độ | Kỹ năng nghề quốc gia | Bậc thợ | Căn cứ |
|---|---|---|---|
| Thực hành trung cấp | bậc 2 trở lên | 4 trên 7 hoặc 3 trên 6 | khoản 5 Điều 13 Thông tư 24/2026/TT-BGDĐT |
| Thực hành cao đẳng | bậc 3 trở lên | 5 trên 7 hoặc 4 trên 6 | khoản 5 Điều 9 Thông tư 25/2026/TT-BGDĐT |
| Chênh lệch | đúng một bậc ở cả hai loại giấy | ||

Về phần chương trình học, con số 280 giờ của Phụ lục I Thông tư 06/2022/TT-BLĐTBXH vẫn là thứ đang được dạy cho nhánh cao đẳng và trung cấp, vì chưa có văn bản nào thay nó tính tới ngày 20/8/2026.
Trung cấp đánh hạng, cao đẳng gọi chức danh
Bảng lương gắn với mã số, và mã số gắn với chuẩn nghề nghiệp. Ba thứ này nối nhau bằng một nguyên tắc rất ngắn nằm ở đầu thông tư về xếp lương. Mã số ghi trong quyết định bổ nhiệm. Mã số nối chuẩn với lương. Trường tư cũng vận dụng được.
| Chức danh | Mã số | Hệ số lương |
|---|---|---|
| Giáo viên trung cấp hạng III | V.09.02.07 | loại A0 từ 2,10 đến 4,89 hoặc loại A1 từ 2,34 đến 4,98 |
| Giáo viên trung cấp hạng II | V.09.02.06 | loại A2 nhóm A2.1 từ 4,40 đến 6,78 |
| Giáo viên trung cấp hạng I | V.09.02.05 | loại A3 nhóm A3.2 từ 5,75 đến 7,55 |
| Giảng viên cao đẳng | V.09.02.03 | loại A0 từ 2,10 đến 4,89 hoặc loại A1 từ 2,34 đến 4,98 |
| Giảng viên chính | V.09.02.02 | loại A2 nhóm A2.1 từ 4,40 đến 6,78 |
| Giảng viên cao cấp | V.09.02.01 | loại A3 nhóm A3.1 từ 6,20 đến 8,00 |

Bảng mã hiện hành nằm ở Điều 2 Thông tư 31/2026/TT-BGDĐT, hiệu lực từ ngày 14/4/2026. Bậc đầu của nhánh trung cấp mang mã số V.09.02.07, bậc đầu của nhánh cao đẳng mang mã số V.09.02.03. Người từng được bổ nhiệm theo mã V.09.02.08 hoặc V.09.02.04 nay chuyển sang hai mã đó. Hệ số lương lấy theo Nghị định 204/2004/NĐ-CP.
Toàn văn thông tư về mã số và xếp lương đăng tại Cổng Xây dựng chính sách, pháp luật. Hai mã cũ đã rời bảng.
Quỹ thời gian dành cho bồi dưỡng
Hai trình độ có cùng tổng số tuần làm việc nhưng chia khác nhau. Nhánh cao đẳng dành nhiều tuần hơn cho bồi dưỡng và nghiên cứu. Giờ chuẩn không bằng giờ đồng hồ. Cùng tổng số tuần, chia khác nhau. Định mức khác nhau theo trình độ.
Chế độ làm việc nằm ở Thông tư 05/2026/TT-BGDĐT, hiệu lực từ ngày 12/02/2026. Cả nhánh cao đẳng lẫn nhánh trung cấp đều 44 tuần một năm học. Phần dành cho học tập và bồi dưỡng là 12 tuần với cao đẳng và 08 tuần với trung cấp. Định mức giờ chuẩn tương ứng là từ 350 đến 450 và từ 400 đến 510.
Khoản 2 Điều 5 của thông tư đó quy định một giờ giảng lý thuyết là 45 phút và được tính bằng 01 giờ chuẩn, còn một giờ dạy tích hợp và một giờ dạy thực hành đều là 60 phút và cũng tính bằng 01 giờ chuẩn. Đọc phần quy đổi trước khi ký. Đưa kế hoạch vào từ đầu năm học.
Phân công dạy khác với bổ nhiệm chức danh
Người đang dạy trung cấp nên biết ranh giới giữa hai chức danh này, vì nhiệm vụ của họ có phần chồng lên chương trình trung học nghề. Văn bản mới nhất của mảng này. Phân công khác với bổ nhiệm. Theo dõi văn bản mới định kỳ.
Thông tư 64/2026/TT-BGDĐT có hiệu lực ngay từ ngày ban hành là 10/8/2026. Đây là lần đầu chức danh giáo viên trung học nghề có mã số riêng, gồm V.09.02.14 cho hạng III, V.09.02.13 cho hạng II và V.09.02.12 cho hạng I. Vì văn bản chưa lên Công báo tính tới ngày 20/8/2026, phần dẫn dưới đây dừng ở những chi tiết đã được hai nguồn độc lập xác nhận.
Hai bản tin cùng đưa nội dung này là bài đăng ngày 16/8/2026 trên Báo Chính phủ và bài đăng ngày 15/8/2026 trên Báo Tin tức. Ban hành ngày 10/8/2026.
Bối cảnh của các quy định về chuẩn
Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo của cả nước cho thấy dư địa còn rất lớn. Đó là bối cảnh của mọi quy định về chuẩn nghề nghiệp trong hai năm gần đây. Dư địa còn rất lớn. Số của cả nước, không theo tỉnh. Nhánh trung cấp và cao đẳng nhỏ hơn.
| Hạng mục | Số liệu năm 2026 |
|---|---|
| Mục tiêu tuyển sinh cả nước | khoảng 2,1 triệu người |
| Trường cao đẳng và trung cấp công lập | 373 |
| Doanh nghiệp hợp tác đào tạo | hơn 7.200 |
| Tỷ lệ cơ sở có hợp tác doanh nghiệp | trên 85% |
Các con số trên lấy từ bản tin ngày 04/7/2026 về hội nghị phát triển giáo dục nghề nghiệp năm 2026, dẫn phát biểu của Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng Sở Giáo dục và Đào tạo Thành phố Hồ Chí Minh. Không có thống kê tách riêng đội ngũ nhà giáo theo từng tỉnh. Đọc số liệu cùng với quy định.
An Giang giữ tên sau khi hợp nhất với Kiên Giang
Khoản 23 Điều 1 Nghị quyết 202/2025/QH15 sắp xếp tỉnh Kiên Giang và tỉnh An Giang thành một tỉnh mới, lấy tên là tỉnh An Giang. Thông tư áp chung cả nước. Đầu mối quản lý gộp lại.
Tỉnh sau sắp xếp rộng 9.888,91 km² với 4.952.238 người, là tỉnh đông dân nhất vùng đồng bằng sông Cửu Long. Trường nghề trên địa bàn giữ nguyên hoạt động. Việc quản lý văn bằng, chứng chỉ theo quy định của Luật Giáo dục. Không có quy định riêng cho tỉnh nào. Địa giới đổi, điều kiện không đổi.

Xem thêm bài cùng chủ đề tại Đồng Tháp, Kiên Giang, Đắk Nông. Nghị quyết vẽ lại bản đồ, không vẽ lại chuẩn.
Chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm không nằm trong danh sách văn bằng của hệ nghề
Danh sách này liệt kê đủ và nó khép lại. Số hiệu văn bản là thứ cần nhất. Kiểm phạm vi, kiểm trình độ.
Khoản 3 Điều 6 Luật Giáo dục nghề nghiệp số 124/2025/QH15 nêu đủ những gì cơ sở hoạt động giáo dục nghề nghiệp được cấp cho người học, gồm bằng cao đẳng, bằng trung cấp, bằng trung học nghề hoặc giấy chứng nhận hoàn thành chương trình, chứng chỉ sơ cấp và chứng chỉ đào tạo. Chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm không nằm trong danh sách đó, vì nó không phải giấy cấp cho người học nghề mà là giấy chứng nhận hoàn thành một chương trình bồi dưỡng dành cho người đi dạy. Người ở An Giang nhận một tấm giấy có tên lạ nên đối chiếu với khoản 3 Điều 6 trước. Đọc điều khoản trước khi đóng tiền. Đi từ cơ sở đào tạo, đừng đi từ quảng cáo.
Các mảng liên quan cùng địa bàn gồm chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm tại An Giang, chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm sơ cấp tại An Giang và chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm đại học tại An Giang. Mỗi mảng đi theo một hệ văn bản riêng. Một câu hỏi mất mười giây.
Với người mới tìm hiểu, thứ tự hợp lý là xác định vai của mình trước. Dạy chương trình cao đẳng thì đi theo Thông tư 25/2026/TT-BGDĐT, dạy chương trình trung cấp thì đi theo Thông tư 24/2026/TT-BGDĐT. Hai đường có hai danh sách khác nhau. Ai muốn hỏi thêm có thể để lại thông tin ở trang liên hệ.
Những câu hay được hỏi nhất
Cơ sở giáo dục nghề nghiệp được cấp những loại văn bằng, chứng chỉ nào?
Khoản 3 Điều 6 Luật Giáo dục nghề nghiệp số 124/2025/QH15 liệt kê bằng cao đẳng, bằng trung cấp, bằng trung học nghề hoặc giấy chứng nhận hoàn thành chương trình, chứng chỉ sơ cấp và chứng chỉ đào tạo.
Chương trình bồi dưỡng chuẩn nghề nghiệp đã ban hành chưa?
Tính tới ngày 20/8/2026 chưa tra được văn bản ban hành chương trình bồi dưỡng chuẩn nghề nghiệp giáo viên trung cấp hay giảng viên cao đẳng. Thời hạn 12 tháng tại điểm b khoản 3 Điều 13 Thông tư 24/2026/TT-BGDĐT tính từ ngày chương trình đó có hiệu lực, nên chưa bắt đầu chạy.
Bài cập nhật 20/8/2026. Dẫn chiếu khoản 3 Điều 6, Điều 21, khoản 3 và khoản 6 Điều 22 Luật Giáo dục nghề nghiệp số 124/2025/QH15, khoản 7 Điều 13 Thông tư 24/2026/TT-BGDĐT và khoản 6 Điều 9 Thông tư 25/2026/TT-BGDĐT. Toàn văn luật ở Công báo Chính phủ.
