Trả lời nhanh: Ngày 10/8/2026 có thêm một chức danh mới trong hệ giáo dục nghề nghiệp. Người ở Kiên Giang cũ dạy trung cấp có thể được phân công dạy chương trình của chức danh đó, nên nên biết ranh giới. Từ 01/01/2026, hệ giáo dục nghề nghiệp có bốn chức danh giảng dạy theo Điều 21. Xác định đúng chức danh của mình rồi mới tra danh sách chứng chỉ, vì mỗi trình độ một danh sách. Ở Kiên Giang, không có ngoại lệ riêng nào về điều kiện giảng dạy.
Một dòng trong danh sách được công nhận
Tên gọi ngoài thị trường và tên gọi trong văn bản ở đây khá gần nhau, chỉ lệch vài chữ giữa hai thông tư. Chính vì gần mà dễ chủ quan. Đọc đúng chữ trong từng văn bản vẫn là việc phải làm. Một dòng trong danh sách, không hơn. Câu trả lời tồn tại, nên hãy hỏi. Tên có thật, vấn đề là phạm vi.
Chứng chỉ được công nhận đáp ứng tiêu chuẩn về năng lực sư phạm dạy trình độ trung cấp quy định tại Thông tư này bao gồm các chứng chỉ sau trở lên: a) Chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm dạy trình độ cao đẳng, trình độ trung cấp; Chứng chỉ sư phạm dạy nghề dạy trình độ trung cấp nghề, cao đẳng nghề; Chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm dạy nghề; Chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm dạy trình độ cao đẳng; Chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giảng viên đại học, cao đẳng; Chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giảng viên trong cơ sở giáo dục đại học; b) Chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm dạy trình độ trung cấp; Chứng chỉ bồi dưỡng sư phạm bậc 2; Chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm giáo viên trung cấp chuyên nghiệp.
Khoản 7 Điều 13 của Thông tư 24/2026/TT-BGDĐT, chia làm điểm a và điểm b.
Đủ cho trung cấp chưa chắc đủ cho cao đẳng
Cách đọc an toàn là xác định trước mình sẽ dạy trình độ nào, rồi mới tra danh sách tương ứng. Đọc ngược lại thì rất dễ mua nhầm một tấm giấy dừng ở nửa đường. Danh sách đóng, không phải gợi ý. Trung cấp không tự động sang cao đẳng. Hai danh sách, không phải một.
Chứng chỉ được công nhận đáp ứng tiêu chuẩn về năng lực sư phạm dạy trình độ cao đẳng quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 6, điểm d khoản 2 Điều 7 và điểm d khoản 2 Điều 8 Thông tư này bao gồm các chứng chỉ sau trở lên: Chứng chỉ sư phạm dạy nghề dạy trình độ trung cấp nghề, cao đẳng nghề; Chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm dạy trình độ cao đẳng, dạy trình độ trung cấp; Chứng chỉ sư phạm dạy nghề; Chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm dạy trình độ cao đẳng; Chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giảng viên đại học, cao đẳng; Chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giảng viên trong cơ sở giáo dục đại học.
Danh sách sáu tấm chứng chỉ tại Thông tư 25/2026/TT-BGDĐT.
| Hạng mục | Nội dung |
|---|---|
| Tấm giấy được hỏi nhiều nhất | chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm dạy nghề |
| Vị trí trong văn bản | điểm a khoản 7 Điều 13 Thông tư 24/2026/TT-BGDĐT |
| Cách gọi ở Thông tư 25/2026/TT-BGDĐT | chứng chỉ sư phạm dạy nghề |
| Chứng minh được vế nào | năng lực sư phạm |
| Chưa chứng minh được vế nào | văn bằng, năng lực thực hành nghề, chứng chỉ bồi dưỡng chuẩn nghề nghiệp |

Hai văn bản cần đọc song song. Thông tư 24/2026/TT-BGDĐT quy định chuẩn nghề nghiệp giáo viên sơ cấp và giáo viên trung cấp, còn Thông tư 25/2026/TT-BGDĐT quy định chuẩn nghề nghiệp giảng viên cao đẳng. Cả hai cùng ban hành ngày 09/4/2026 và cùng có hiệu lực từ chính ngày đó. Ba tấm ở điểm b khoản 7 Điều 13 gồm chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm dạy trình độ trung cấp, chứng chỉ bồi dưỡng sư phạm bậc 2 và chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm giáo viên trung cấp chuyên nghiệp thì vắng mặt trong danh sách của cao đẳng.
Luật đòi năng lực sư phạm, không đòi tấm giấy
Một câu duy nhất trong luật, và nó chi phối toàn bộ phần còn lại của chủ đề. Đọc kỹ mệnh đề trong ngoặc là thấy ai thuộc diện phải chứng minh, ai không. Chú ý mệnh đề trong ngoặc. Hai tầng văn bản, đọc cả hai. Luật đòi năng lực, không đòi giấy.
Giảng viên, giáo viên quy định tại khoản 1 Điều này nếu không tốt nghiệp ngành đào tạo giáo viên thì phải có năng lực sư phạm phù hợp với trình độ giảng dạy.
Trích Luật Giáo dục nghề nghiệp số 124/2025/QH15, điều về trình độ chuẩn được đào tạo.
Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định bằng cử nhân hoặc văn bằng trình độ tương đương trở lên một số ngành đào tạo của giáo dục đại học được dạy thực hành; năng lực sư phạm và năng lực thực hành nghề của giảng viên, giáo viên; chương trình bồi dưỡng năng lực sư phạm và khung chương trình bồi dưỡng năng lực thực hành nghề; việc đánh giá, công nhận năng lực sư phạm, năng lực thực hành nghề; tiêu chuẩn cơ sở thực hiện bồi dưỡng và đánh giá.
Khoản 6 Điều 22 Luật Giáo dục nghề nghiệp số 124/2025/QH15, phần giao việc cho Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Từ ngày 01/01/2026, Luật Giáo dục nghề nghiệp số 124/2025/QH15 thay cho Luật Giáo dục nghề nghiệp số 74/2014/QH13. Điều 22 của quyển luật mới đặt ra trình độ chuẩn được đào tạo cho cả bốn chức danh, và khoản 6 của điều này giao lại cho Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo bảy nhóm việc, trong đó có tiêu chuẩn cơ sở thực hiện bồi dưỡng và đánh giá. Nhóm việc ấy tới ngày 20/8/2026 chưa có văn bản. Riêng quyền và nghĩa vụ của người cơ hữu thì khoản 1 Điều 23 dẫn sang Luật Nhà giáo.
Điều 21 chia vai theo chương trình
Điều 21 còn chia tiếp theo hình thức làm việc. Bốn hình thức ấy khác nhau về quyền và nghĩa vụ, nhưng giống nhau ở chỗ đều phải đạt trình độ chuẩn của Điều 22. Trường nào không quyết định vai nào. Bốn vai, chia theo chương trình. Mỗi vai một bộ chuẩn.
Giảng viên, giáo viên quy định tại khoản 1 Điều này bao gồm: giảng viên và giáo viên cơ hữu, giảng viên đồng cơ hữu, giảng viên và giáo viên hợp đồng toàn thời gian sau khi nghỉ hưu, giảng viên và giáo viên thỉnh giảng.
Trích Luật Giáo dục nghề nghiệp số 124/2025/QH15, phần gọi tên bốn vai giảng dạy.
Trước khoản này, khoản 1 Điều 21 đã gọi tên bốn vai theo chương trình giảng dạy, lần lượt là giảng viên cao đẳng, giáo viên trung học nghề, giáo viên trung cấp và giáo viên sơ cấp. Điều 21 vì thế là điều phải đọc trước. Định vị mình trước đã. Hỏi mình dạy chương trình gì.

Chữ dạy nghề xuất hiện ở hai chỗ khác nhau
Người đang hướng dẫn tay nghề trong nhà máy nên đọc kỹ khoản này trước khi tìm lớp. Có thể vai của họ đã được luật xếp vào nhóm riêng với bộ tiêu chuẩn riêng. Chế độ do cơ sở quy định. Hai cụm từ, hai thứ khác nhau. Đọc khoản 4 trước khi tìm lớp.
Người dạy nghề là nhân sự khác theo quy định của Luật Giáo dục thực hiện nhiệm vụ giảng dạy, hướng dẫn thực hành tại doanh nghiệp, hợp tác xã để thực hiện các chương trình giáo dục nghề nghiệp.
Khoản 4 Điều 21 Luật Giáo dục nghề nghiệp số 124/2025/QH15, định nghĩa người dạy nghề.
Khoản 3 Điều 6 của cùng quyển luật liệt kê đủ những gì cơ sở hoạt động giáo dục nghề nghiệp được cấp cho người học, gồm bằng cao đẳng, bằng trung cấp, bằng trung học nghề hoặc giấy chứng nhận hoàn thành chương trình, chứng chỉ sơ cấp và chứng chỉ đào tạo. Chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm không nằm trong danh sách đó vì nó là giấy dành cho người đi dạy. Vai này nằm ngoài bốn chức danh. Nơi làm việc là chỗ phân biệt.
Vế thứ hai không có ngoại lệ nào
Vế thứ nhất là năng lực sư phạm, có mệnh đề miễn trừ cho người tốt nghiệp ngành đào tạo giáo viên. Vế thứ hai là chứng chỉ bồi dưỡng chuẩn nghề nghiệp, và vế này không có ngoại lệ nào. Đọc hết khoản rồi hãy kết luận. Một nửa yêu cầu vẫn là một nửa. Vế sau không có ngoại lệ.
Giáo viên trung cấp hạng III, hạng II và hạng I phải có năng lực sư phạm dạy trình độ trung cấp (đối với giáo viên không tốt nghiệp ngành đào tạo giáo viên); có chứng chỉ bồi dưỡng chuẩn nghề nghiệp giáo viên trung cấp. Việc đánh giá, công nhận năng lực sư phạm thực hiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Khoản 4 Điều 11 của Thông tư 24/2026/TT-BGDĐT, chương về chuẩn nghề nghiệp giáo viên trung cấp.
Điểm đ và điểm e khoản 2 Điều 6 Thông tư 25/2026/TT-BGDĐT đặt ra đúng hai vế ấy cho nhánh cao đẳng, với tên tấm giấy thứ hai là chứng chỉ bồi dưỡng chuẩn nghề nghiệp giảng viên cao đẳng. Hai điểm này lặp lại ở Điều 7 và Điều 8 dành cho giảng viên chính và giảng viên cao cấp. Hai vế, không phải một. Chương trình thứ hai chưa có.
Mốc nào áp cho ai
Mốc thứ ba là một thời hạn tính lùi từ một sự kiện chưa xảy ra. Cách đặt ấy khiến đồng hồ vẫn chưa bắt đầu chạy. Ngày cấp ghi trên giấy rất quan trọng. Hai thông tư dùng chung bộ mốc. Xếp mình vào nhóm nào trước.
Trường hợp chưa có chứng chỉ bồi dưỡng quy định tại khoản 1 Điều này thì phải hoàn thiện đáp ứng yêu cầu về chứng chỉ bồi dưỡng chuẩn nghề nghiệp giáo viên sơ cấp hoặc giáo viên trung cấp trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày chương trình bồi dưỡng chuẩn nghề nghiệp giáo viên sơ cấp, giáo viên trung cấp có hiệu lực thi hành.
Điểm b khoản 3 Điều 13 Thông tư 24/2026/TT-BGDĐT, thời hạn hoàn thiện chứng chỉ.
Xếp theo nhóm người thì dễ nhớ hơn. Ai vào vị trí việc làm trước ngày 09/4/2026 được miễn vế chứng chỉ bồi dưỡng chuẩn nghề nghiệp. Ai đang giữ chứng chỉ bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp cấp trước ngày 31/12/2026 thì tấm ấy được tính tương đương. Ai vào vị trí sau đó mà chưa có gì thì có 12 tháng kể từ ngày chương trình bồi dưỡng có hiệu lực, và ngày ấy chưa tới.

Bậc thợ và chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia
Có một cửa vào không đi qua bất kỳ tấm chứng chỉ sư phạm nào. Nó dành cho người có tay nghề, và luật ghi ngưỡng rất cụ thể. Danh sách dài hơn nhiều người tưởng. Cao đẳng cao hơn một bậc. Cửa này không đi qua chứng chỉ.
| Vế trong hồ sơ | Chứng minh bằng gì | Ai được miễn |
|---|---|---|
| Văn bằng dạy lý thuyết | bằng cử nhân hoặc văn bằng trình độ tương đương trở lên | không ai |
| Văn bằng dạy thực hành | bằng cao đẳng trở lên, văn bằng đại học thuộc danh mục, hoặc năng lực thực hành nghề | không ai |
| Năng lực sư phạm | chứng chỉ trong danh sách được công nhận | người tốt nghiệp ngành đào tạo giáo viên |
| Chuẩn nghề nghiệp | chứng chỉ bồi dưỡng chuẩn nghề nghiệp | người vào vị trí việc làm trước ngày 09/4/2026 |

Chương trình các cơ sở đang giảng dạy vẫn là chương trình 280 giờ của Phụ lục I Thông tư 06/2022/TT-BLĐTBXH, dành cho người dạy trình độ cao đẳng và trình độ trung cấp. Văn bản này tới ngày 20/8/2026 chưa bị thay thế.
Đọc mã số trong quyết định bổ nhiệm
Điều đáng chú ý nhất của bảng mã mới là hai mã số cũ đã biến mất. Chúng thuộc về hai chức danh dành riêng cho người dạy thực hành. Hai mã cũ đã rời bảng. Mã số ghi trong quyết định bổ nhiệm. Hai nhánh, hai cách gọi.
| Nhánh | Cách gọi ba bậc | Ba mã số |
|---|---|---|
| Trung cấp | hạng III, hạng II, hạng I | V.09.02.07, V.09.02.06, V.09.02.05 |
| Cao đẳng | giảng viên, giảng viên chính, giảng viên cao cấp | V.09.02.03, V.09.02.02, V.09.02.01 |
| Căn cứ | khoản 7 và khoản 8 Điều 2 Thông tư 31/2026/TT-BGDĐT | |
| Hiệu lực | ngày 14/4/2026 | |

Bốn mã số nên nhớ. Thông tư 31/2026/TT-BGDĐT hiệu lực từ ngày 14/4/2026 đặt mã số V.09.02.07 cho giáo viên trung cấp hạng III và mã số V.09.02.03 cho chức danh giảng viên ở nhánh cao đẳng. Hai mã số cũ là V.09.02.08 và V.09.02.04 của hai chức danh dạy thực hành không còn trong bảng mã. Bảng lương áp dụng là bảng của Nghị định 204/2004/NĐ-CP.
Toàn văn thông tư về mã số và xếp lương đăng tại Cổng Xây dựng chính sách, pháp luật. Mã số nối chuẩn với lương.
Thông tư 05/2026 quy định những gì
Định mức giờ chuẩn cũng khác nhau giữa hai trình độ. Con số này là căn cứ để tính phần vượt định mức và các chế độ liên quan. Tuần bồi dưỡng là quỹ chính thức. Đưa kế hoạch vào từ đầu năm học. Giờ chuẩn không bằng giờ đồng hồ.
Thông tư 05/2026/TT-BGDĐT hiệu lực từ ngày 12/02/2026 quy định chế độ làm việc của nhà giáo giáo dục nghề nghiệp. Hai trình độ đều làm 44 tuần một năm, nhưng nhánh cao đẳng chia thành 32 tuần giảng dạy cộng 12 tuần bồi dưỡng, còn nhánh trung cấp chia thành 36 tuần giảng dạy cộng 08 tuần bồi dưỡng. Định mức là từ 350 đến 450 giờ chuẩn với cao đẳng và từ 400 đến 510 giờ chuẩn với trung cấp.
Cách quy đổi nằm ở khoản 2 Điều 5. Một giờ lý thuyết dài 45 phút, một giờ tích hợp và một giờ thực hành dài 60 phút, cả ba đều được tính bằng 01 giờ chuẩn. Cùng tổng số tuần, chia khác nhau. Đọc phần quy đổi trước khi ký.
Phân công dạy khác với bổ nhiệm chức danh
Việc một chức danh mới xuất hiện giữa năm 2026 cho thấy hệ văn bản của mảng này vẫn đang được bổ sung. Theo dõi văn bản mới là việc nên làm định kỳ. Chưa lên Công báo nên dẫn dè dặt. Ban hành ngày 10/8/2026. Phân công khác với bổ nhiệm.
Văn bản mới nhất của mảng này là Thông tư 64/2026/TT-BGDĐT, ban hành và có hiệu lực từ ngày 10/8/2026, quy định mã số, chuẩn nghề nghiệp, bổ nhiệm, xếp lương và chế độ làm việc đối với giáo viên trung học nghề. Ba hạng của chức danh này mang mã số V.09.02.14, V.09.02.13 và V.09.02.12. Thông tư tới ngày 20/8/2026 chưa lên Công báo, nên phần dẫn ở đây chỉ gồm chi tiết mà hai nguồn báo chí độc lập cùng nêu.
Hai bản tin cùng đưa nội dung này là bài đăng ngày 16/8/2026 trên Báo Chính phủ và bài đăng ngày 15/8/2026 trên Báo Tin tức. Theo dõi văn bản mới định kỳ.
Hệ thống đang cần người đứng lớp đạt chuẩn
Không có thống kê công khai tách riêng đội ngũ nhà giáo giáo dục nghề nghiệp theo từng tỉnh. Vì vậy bài này chỉ dẫn số liệu cấp quốc gia. Nhánh trung cấp và cao đẳng nhỏ hơn. Con số nói rõ hơn lời rao. Số của cả nước, không theo tỉnh.
| Chỉ số | Giá trị | Ghi chú |
|---|---|---|
| Số trường công lập | 373 | gồm cao đẳng và trung cấp |
| Người tốt nghiệp năm 2025 | khoảng 1,8 triệu | toàn hệ |
| Lao động đã qua đào tạo | gần 30% | số liệu năm 2025 |
| Tuyển sinh nhóm ngành công nghệ | khoảng 92.000 người | công nghệ thông tin, tự động hóa, bán dẫn, năm 2025 |
Các con số trên lấy từ bản tin ngày 04/7/2026 về hội nghị phát triển giáo dục nghề nghiệp năm 2026, dẫn phát biểu của Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng Sở Giáo dục và Đào tạo Thành phố Hồ Chí Minh. Không có thống kê tách riêng đội ngũ nhà giáo theo từng tỉnh. Đây là nhu cầu thật của hệ thống.
Kiên Giang nay là một phần của tỉnh An Giang
Theo khoản 23 Điều 1 Nghị quyết 202/2025/QH15, toàn bộ diện tích tự nhiên và quy mô dân số tỉnh Kiên Giang được sắp xếp cùng tỉnh An Giang, tỉnh mới lấy tên An Giang. Hồ sơ đổi tên tỉnh thôi. Nghị quyết vẽ lại bản đồ, không vẽ lại chuẩn.
Tỉnh mới có 9.888,91 km² và 4.952.238 người, gồm cả phần đảo. Cơ sở đào tạo nghề trên địa bàn Kiên Giang cũ tiếp tục hoạt động theo giấy phép đã cấp. Chức danh nhà giáo do thông tư của Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định. Đầu mối quản lý gộp lại. Thông tư áp chung cả nước.

Xem thêm bài cùng chủ đề tại Cà Mau, An Giang, Đắk Lắk. Địa giới đổi, điều kiện không đổi.
Dạy chương trình trung học nghề không đồng nghĩa với chức danh giáo viên trung học nghề
Một nhiệm vụ được giao và một chức danh được bổ nhiệm là hai chuyện. Đọc kỹ chỗ này. Nó nằm ở hai văn bản khác nhau. Một câu hỏi mất mười giây. Đi từ cơ sở đào tạo, đừng đi từ quảng cáo.
Điểm a khoản 1 Điều 4 Thông tư 24/2026/TT-BGDĐT giao cho giáo viên trung cấp hạng III nhiệm vụ giảng dạy trình độ trung cấp và chương trình giáo dục trung học nghề. Trong khi đó Thông tư 64/2026/TT-BGDĐT ngày 10/8/2026 lập hệ thống chức danh riêng cho giáo viên trung học nghề. Ba hạng, ba mã số. Người ở Kiên Giang cũ được phân công dạy chương trình trung học nghề vì thế vẫn giữ chức danh giáo viên trung cấp, trừ khi có quyết định bổ nhiệm sang chức danh mới. Biết mình thiếu vế nào đã. Số hiệu văn bản là thứ cần nhất.
Các mảng liên quan cùng địa bàn gồm chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm tại Kiên Giang, chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm sơ cấp tại Kiên Giang và chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm đại học tại Kiên Giang. Mỗi mảng đi theo một hệ văn bản riêng. Đọc điều khoản trước khi đóng tiền.
Với người mới tìm hiểu, thứ tự hợp lý là xác định vai của mình trước. Dạy chương trình cao đẳng thì đi theo Thông tư 25/2026/TT-BGDĐT, dạy chương trình trung cấp thì đi theo Thông tư 24/2026/TT-BGDĐT. Hai đường có hai danh sách khác nhau. Ai muốn hỏi thêm có thể để lại thông tin ở trang liên hệ.
Giải đáp nhanh
Giáo viên trung cấp có được dạy chương trình giáo dục trung học nghề không?
Điểm a khoản 1 Điều 4 Thông tư 24/2026/TT-BGDĐT giao cho giáo viên trung cấp hạng III nhiệm vụ giảng dạy chương trình giáo dục trung học nghề, bên cạnh trình độ trung cấp, trình độ sơ cấp và các chương trình đào tạo nghề khác.
Muốn dạy trình độ trung cấp thì cần những gì?
Khoản 1 Điều 22 Luật Giáo dục nghề nghiệp số 124/2025/QH15 đòi bằng cử nhân trở lên với người dạy lý thuyết và bằng cao đẳng trở lên với người dạy thực hành. Khoản 3 cùng điều đòi năng lực sư phạm với người không tốt nghiệp ngành đào tạo giáo viên. Khoản 4 Điều 11 Thông tư 24/2026/TT-BGDĐT đòi thêm chứng chỉ bồi dưỡng chuẩn nghề nghiệp giáo viên trung cấp.
Bài viết cập nhật ngày 20/8/2026, căn cứ Điều 6, Điều 21, Điều 22 và Điều 23 Luật Giáo dục nghề nghiệp số 124/2025/QH15 cùng bốn thông tư năm 2026. Bản gốc đọc ở Công báo Chính phủ.
