Trả lời nhanh: Thành phố Hồ Chí Minh là nơi rao khóa nghiệp vụ sư phạm sơ cấp nhiều nhất cả nước. Từ tháng 4 năm 2026 có một thay đổi ít nơi nhắc: dạy trình độ sơ cấp đã thành một chức danh có ba hạng, và tấm chứng chỉ chỉ là một trong hai điều kiện. Bài này bám vào bốn thông tư năm 2026 và một thông tư năm 2022, dẫn đủ số điều khoản để bạn tự đối chiếu. Phần địa bàn TP. Hồ Chí Minh nằm ở giữa bài, kèm căn cứ của Nghị quyết 202/2025/QH15.
Thông tư 24/2026 và chức danh giáo viên sơ cấp
Nhiều nơi vẫn giới thiệu khóa nghiệp vụ sư phạm sơ cấp như một tấm giấy duy nhất cần có để đi dạy. Cách nói đó đúng cho tới đầu năm 2026. Sau khi chuẩn nghề nghiệp mới có hiệu lực, bức tranh có thêm một tầng mà người học nên biết. Từ 09/4/2026 đã khác.
Phần mã số và xếp lương nằm ở một thông tư khác. Khoản 6 Điều 2 Thông tư 31/2026/TT-BGDĐT đặt V.09.02.09, V.09.02.10 và V.09.02.11 cho ba hạng, và Điều 11 gắn mỗi mã với một khung hệ số lương. Hiệu lực từ ngày 14/4/2026. Có đường thăng hạng rồi.
| Hạng | Mã số theo Thông tư 31/2026 | Điều kiện văn bằng theo Thông tư 24/2026 |
|---|---|---|
| III | V.09.02.09 | Khoản 1 Điều 8: trung cấp trở lên, hoặc năng lực thực hành nghề |
| II | V.09.02.10 | Khoản 2 Điều 8: cử nhân hoặc văn bằng tương đương trở lên |
| I | V.09.02.11 | Khoản 3 Điều 8: thạc sĩ trở lên, hoặc đủ cả khoản 1 và khoản 2 |

Năng lực sư phạm và chứng chỉ bồi dưỡng chuẩn nghề nghiệp
Đây là chỗ dễ hiểu nhầm nhất trong toàn bộ quy định mới. Khoản 4 Điều 8 Thông tư 24/2026/TT-BGDĐT không đòi một tấm giấy, nó đòi hai. Và hai tấm ấy có hai tên gọi khác nhau, do hai loại chương trình khác nhau cấp. Hỏi cho rõ trước đã.
Giáo viên sơ cấp hạng III, hạng II và hạng I phải có năng lực sư phạm dạy trình độ sơ cấp (đối với giáo viên không tốt nghiệp ngành đào tạo giáo viên); có chứng chỉ bồi dưỡng chuẩn nghề nghiệp giáo viên sơ cấp. Việc đánh giá, công nhận năng lực sư phạm thực hiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Nguyên văn khoản 4 Điều 8 Thông tư 24/2026/TT-BGDĐT
Câu trên nằm trong Thông tư 24/2026/TT-BGDĐT, văn bản có hiệu lực từ ngày 09/4/2026. Dấu chấm phẩy tách hai vế. Tên khác nhau hẳn.
| Vế của khoản 4 Điều 8 | Tấm giấy tương ứng | Có ngoại lệ không |
|---|---|---|
| Năng lực sư phạm dạy trình độ sơ cấp | Chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm dạy trình độ sơ cấp và các tên gọi tương đương | Có, người tốt nghiệp ngành đào tạo giáo viên được miễn |
| Chứng chỉ bồi dưỡng chuẩn nghề nghiệp | Chứng chỉ bồi dưỡng chuẩn nghề nghiệp giáo viên sơ cấp | Có, theo điều khoản chuyển tiếp tại Điều 13 |

Chứng chỉ cũ có còn dùng được không
Điểm đáng giá của khoản 8 là nó biến một câu hỏi mơ hồ thành một phép đối chiếu. Cầm phôi chứng chỉ lên, đọc dòng tên, so với danh sách. Có tên thì được công nhận, không có tên thì phải hỏi tiếp nơi cấp. Ba tên gọi, cùng giá trị.
Chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm dạy trình độ sơ cấp. Chứng chỉ sư phạm dạy nghề dạy trình độ sơ cấp nghề. Chứng chỉ bồi dưỡng sư phạm bậc 1.
Điểm a khoản 8 Điều 13 bản đăng Công báo của Thông tư 24/2026/TT-BGDĐT
Điểm b của cùng khoản dẫn chiếu sang danh sách của trình độ trung cấp ở khoản 7, nên chứng chỉ bậc cao dùng thay được cho bậc thấp. Chiều ngược thì không. Cầm phôi lên đối chiếu.
Mốc 31/12/2026 và thời hạn 12 tháng
Mốc 31 tháng 12 năm 2026 ở khoản 1 áp dụng cho chứng chỉ bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp. Cấp trước mốc đó thì được xác định tương đương. Đây là mốc duy nhất trong Điều 13 gắn với một ngày cụ thể trong tương lai gần. Mốc là 09/4/2026.
Chứng chỉ bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp các hạng viên chức chuyên ngành giáo dục nghề nghiệp hoặc chứng chỉ bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp viên chức chuyên ngành giáo dục nghề nghiệp theo quy định của pháp luật được cấp trước ngày 31 tháng 12 năm 2026 được xác định tương đương với chứng chỉ bồi dưỡng chuẩn nghề nghiệp giáo viên sơ cấp hoặc giáo viên trung cấp quy định tại Thông tư này.
Điều khoản chuyển tiếp, khoản 1 Điều 13 Thông tư 24/2026/TT-BGDĐT
Có một nhóm được miễn hẳn phần này. Giáo viên trong cơ sở hoạt động giáo dục nghề nghiệp được tuyển dụng, tiếp nhận hoặc thay đổi vị trí việc làm sang vị trí việc làm giáo viên sơ cấp, giáo viên trung cấp trước ngày Thông tư này có hiệu lực thi hành thì không yêu cầu đáp ứng tiêu chuẩn có chứng chỉ bồi dưỡng chuẩn nghề nghiệp giáo viên sơ cấp hoặc giáo viên trung cấp tương ứng chức danh quy định tại Thông tư này. Ngày hiệu lực của thông tư là 09/4/2026. Trước mốc thì được miễn.
Phần chuyển tiếp xoay quanh ba con số. Mốc 09/4/2026 tách nhóm được miễn khỏi nhóm phải bổ sung. Mốc 31/12/2026 xác định chứng chỉ bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp nào được coi là tương đương. Thời hạn 12 tháng chỉ bắt đầu chạy khi chương trình bồi dưỡng chuẩn nghề nghiệp có hiệu lực. Xem mình thuộc nhóm nào.
Chỗ nhánh sơ cấp khác mọi nhánh sư phạm khác
Khoản 6 còn kéo toàn bộ danh sách của khoản 5 xuống áp dụng. Khoản 5 vốn dùng cho dạy thực hành trình độ trung cấp nên mức cao hơn, gồm các danh hiệu ưu tú, chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia bậc 2 trở lên, bậc thợ 4/7 hoặc 3/6 trở lên và bằng cao đẳng nghề. Danh sách tra được hết.
Đối với hạng III: có bằng tốt nghiệp trung cấp trở lên hoặc có năng lực thực hành nghề để dạy trình độ sơ cấp phù hợp với ngành, nghề giảng dạy. Việc đánh giá, công nhận năng lực thực hành nghề thực hiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Theo khoản 1 Điều 8 Thông tư 24/2026/TT-BGDĐT trên Công báo
Mức thấp nhất của danh sách được ghi rõ. Chứng nhận nghệ nhân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia bậc 1 trở lên. Chứng nhận bậc thợ 3/7 hoặc 2/6 trở lên. Khoản 6 còn kéo toàn bộ danh sách của khoản 5 xuống áp dụng cho trình độ sơ cấp. Hai vế khác nhau nhé. Bậc thợ cũng tính.
Sĩ số lớp và cách tính một giờ chuẩn
Trong 46 tuần ấy có 42 tuần giảng dạy và chỉ 04 tuần dành cho học tập, bồi dưỡng và các hoạt động chuyên môn. Nhánh trung cấp có 08 tuần cho phần đó, nhánh cao đẳng có 12 tuần. Người dạy sơ cấp có ít thời gian tự bồi dưỡng nhất. Học trước rồi hãy dạy.
Thời gian làm việc của nhà giáo dạy trình độ sơ cấp là 46 tuần, bao gồm 42 tuần thực hiện nhiệm vụ giảng dạy và 04 tuần tham gia học tập, bồi dưỡng, thực hiện hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, cập nhật nâng cao kỹ năng thực hành, tiếp cận công nghệ mới, dự giờ, trao đổi kinh nghiệm và các hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ khác.
Theo khoản 3 Điều 7 Thông tư 05/2026/TT-BGDĐT, hiệu lực 12/02/2026
Còn một con số nữa ảnh hưởng trực tiếp tới thu nhập. Một giờ chuẩn được tính đối với việc giảng dạy lý thuyết cho 01 lớp tối đa 35 học viên, học sinh, sinh viên. Giảng dạy thực hành hoặc kết hợp lý thuyết và thực hành cho 01 lớp tối đa 18 học viên, học sinh, sinh viên. Giảng dạy thực hành hoặc tích hợp các ngành, nghề học nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm theo danh mục do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành cho 01 lớp tối đa 10 học viên, học sinh, sinh viên. Đây là khoản 1 Điều 5 Thông tư 05/2026/TT-BGDĐT. Con số nói thay lời.
| Chỉ số của nhánh sơ cấp | Giá trị | So với hai nhánh còn lại |
|---|---|---|
| Số tuần làm việc | 46 tuần | Nhiều hơn 02 tuần |
| Số tuần giảng dạy | 42 tuần | Nhiều nhất |
| Số tuần bồi dưỡng | 04 tuần | Ít nhất |
| Định mức giờ chuẩn | 450 đến 580 | Cao nhất |

Thông tư 43/2026 và vai người được mời dạy
Có một vai khác hay bị gộp chung với giáo viên sơ cấp. Thông tư 43/2026/TT-BGDĐT có hiệu lực từ ngày 09/6/2026 quy định tiêu chuẩn người dạy nghề, và người dạy nghề không phải chức danh nhà giáo. Hội đồng năm hoặc bảy.
Người dạy nghề bao gồm người được cơ sở hoạt động giáo dục nghề nghiệp mời giảng dạy, hướng dẫn thực hành một hoặc một số nội dung của chương trình đào tạo trong giáo dục nghề nghiệp tại doanh nghiệp, hợp tác xã, hoặc được doanh nghiệp mời, cử tham gia giảng dạy, hướng dẫn thực hành tại doanh nghiệp, hợp tác xã theo chương trình phối hợp.
Trích khoản 1 Điều 3 Thông tư 43/2026/TT-BGDĐT trên Công báo
Hội đồng có số lượng 05 hoặc 07 thành viên, bao gồm đại diện lãnh đạo cơ sở hoạt động giáo dục nghề nghiệp, nhà giáo có chuyên môn, nghiệp vụ phù hợp và đại diện doanh nghiệp, hợp tác xã hoặc đơn vị sự nghiệp, tổ chức hoạt động trong lĩnh vực của ngành, nghề đánh giá, hiệp hội ngành, nghề nếu có, hoặc chuyên gia trong lĩnh vực liên quan. Đây là khoản 3 Điều 7 Thông tư 43/2026/TT-BGDĐT, văn bản có hiệu lực từ ngày 09/6/2026. Mời dạy khác tuyển dụng.
Đọc kỹ Điều 7 thì thấy hai giới hạn. Khoản 1 Thông tư 43/2026/TT-BGDĐT chỉ cho cơ sở đánh giá ngành nghề thuộc nhóm đã được cấp phép. Điểm c khoản 3 đòi ủy viên có chuyên môn phù hợp và ít nhất 03 năm kinh nghiệm trực tiếp giảng dạy hoặc hoạt động trong ngành nghề tham gia đánh giá. Hỏi rõ mình đang là ai.
Địa bàn thành phố nay gồm cả Bà Rịa – Vũng Tàu và Bình Dương cũ
Khoản 16 Điều 1 Nghị quyết 202/2025/QH15 sắp xếp Thành phố Hồ Chí Minh cùng tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu và tỉnh Bình Dương thành một thành phố, giữ tên Thành phố Hồ Chí Minh. Diện tích sau sắp xếp là 6.772,59 km², dân số 14.002.598 người. Một đầu mối thôi.
Mạng lưới cơ sở hoạt động giáo dục nghề nghiệp trên cả ba vùng cũ nay nằm dưới một đầu mối quản lý giáo dục cấp thành phố. Người học ghi danh ở vùng nào trong ba vùng ấy cũng thuộc cùng một hệ thống quản lý. Hồ sơ ghi tên mới.

Xem thêm bài về chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm sơ cấp tại Đồng Nai, Tây Ninh, Ninh Thuận.
Ba hạng chức danh và ba mã số của giáo viên sơ cấp
Trước đây không có bảng này. Đọc văn bản gốc đi.
Khoản 6 Điều 2 Thông tư 31/2026/TT-BGDĐT đặt ba mã số cho chức danh giáo viên sơ cấp: hạng III mã V.09.02.09, hạng II mã V.09.02.10, hạng I mã V.09.02.11. Thông tư có hiệu lực từ ngày 14/4/2026. Trước đó nhánh giáo dục nghề nghiệp dùng bảng mã của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội và chức danh giáo viên sơ cấp không đứng riêng như vậy. Ba mã số này là thứ tra được trong quyết định bổ nhiệm, nên khi một nơi giới thiệu khóa học mà không phân biệt nổi ba hạng thì đó là dấu hiệu họ chưa đọc văn bản mới. Không đoán, tra là ra.
Những lời hứa nên đặt câu hỏi ngược
Gõ tên tấm chứng chỉ này lên mạng thì phần lớn kết quả là trang tuyển sinh. Cách đọc những trang đó cho nhanh là tìm xem họ có nhắc tới văn bản năm 2026 nào không. Nếu chỉ dẫn văn bản từ 2022 trở về trước thì thông tin của họ dừng ở đó. Xem họ dẫn văn bản nào.
Người muốn xem toàn cảnh bốn nhóm nhà giáo trước khi chọn nhánh có thể đọc bài tổng quan về chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm tại TP. Hồ Chí Minh. Hai phụ lục, đừng gộp.
Gom lại các con số của chủ đề này cho dễ đối chiếu. Chương trình theo Phụ lục II Thông tư 06/2022/TT-BLĐTBXH dài 96 giờ. Một năm làm việc của nhà giáo dạy sơ cấp là 46 tuần với định mức 450 đến 580 giờ chuẩn. Lớp lý thuyết tối đa 35 người, lớp thực hành tối đa 18 người và lớp nghề nặng nhọc tối đa 10 người. Hội đồng đánh giá người dạy nghề có 05 hoặc 07 thành viên với ủy viên phải có ít nhất 03 năm kinh nghiệm. Chứng chỉ được cấp trong thời hạn không quá 30 ngày kể từ ngày kết thúc khóa. Đừng vội vì lời dọa.
Một nơi tuyển sinh có căn cứ sẽ nói ngay được số hiệu văn bản, số giờ chương trình và tên loại chứng chỉ sẽ cấp. Chỗ nào né ba câu đó thì nên dừng lại và tra bản gốc trước. Muốn tìm hiểu các hướng đào tạo khác có thể trao đổi qua trang liên hệ.
Những câu hỏi hay gặp nhất
Chức danh giáo viên sơ cấp có mấy hạng và mã số là gì?
Ba hạng. Theo khoản 6 Điều 2 Thông tư 31/2026/TT-BGDĐT, hạng III mang mã V.09.02.09, hạng II mang mã V.09.02.10, hạng I mang mã V.09.02.11. Thông tư có hiệu lực từ ngày 14/4/2026.
Chuẩn nghề nghiệp giáo viên sơ cấp áp dụng cho cơ sở tư thục không?
Có. Khoản 1 Điều 2 Thông tư 24/2026/TT-BGDĐT áp dụng cho cả cơ sở công lập và tư thục, kể cả doanh nghiệp và hợp tác xã thực hiện chương trình đào tạo trình độ sơ cấp. Chỉ cơ sở thuộc Bộ Quốc phòng và Bộ Công an được loại trừ.
Cập nhật ngày 20/8/2026. Căn cứ pháp lý lấy từ bản đăng Công báo của Thông tư 24/2026/TT-BGDĐT cùng các thông tư 31/2026, 05/2026 và 43/2026 của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
