Trả lời nhanh: Từ giữa tháng 4 năm 2026, chức danh giáo viên trung cấp có mã số riêng và ba hạng. Người ở Sóc Trăng cũ đang làm trong trường công lập nên biết mã số của mình. Cụm chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm dạy nghề có tên nguyên văn tại điểm a khoản 7 Điều 13 Thông tư 24/2026/TT-BGDĐT, trong danh sách chứng chỉ được công nhận cho trình độ trung cấp. Trình độ cao đẳng có một danh sách riêng ở khoản 6 Điều 9 Thông tư 25/2026/TT-BGDĐT. Ở Sóc Trăng, người giảng dạy trong cơ sở giáo dục nghề nghiệp áp dụng đúng bộ quy định này.
Phép thử mười giây với một lời rao
Trong hệ giáo dục nghề nghiệp hiện nay có ba tấm giấy hay bị gọi lẫn thành một. Chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm dạy nghề, chứng chỉ bồi dưỡng chuẩn nghề nghiệp, và chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia. Ba tấm, ba vai trò khác nhau trong hồ sơ. Ba tấm giấy, ba vai trò. Hỏi điểm nào, khoản nào, điều nào. Một dòng trong danh sách, không hơn.
Chứng chỉ được công nhận đáp ứng tiêu chuẩn về năng lực sư phạm dạy trình độ trung cấp quy định tại Thông tư này bao gồm các chứng chỉ sau trở lên: a) Chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm dạy trình độ cao đẳng, trình độ trung cấp; Chứng chỉ sư phạm dạy nghề dạy trình độ trung cấp nghề, cao đẳng nghề; Chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm dạy nghề; Chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm dạy trình độ cao đẳng; Chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giảng viên đại học, cao đẳng; Chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giảng viên trong cơ sở giáo dục đại học; b) Chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm dạy trình độ trung cấp; Chứng chỉ bồi dưỡng sư phạm bậc 2; Chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm giáo viên trung cấp chuyên nghiệp.
Khoản 7 Điều 13 Thông tư 24/2026/TT-BGDĐT, danh sách chứng chỉ được công nhận cho trình độ trung cấp.
Danh sách của cao đẳng ngắn hơn
Cách đọc an toàn là xác định trước mình sẽ dạy trình độ nào, rồi mới tra danh sách tương ứng. Đọc ngược lại thì rất dễ mua nhầm một tấm giấy dừng ở nửa đường. Bản cao đẳng ngắn hơn ba dòng. Chỗ chênh nằm ở điểm b. Xác định trình độ trước, tra sau.
Chứng chỉ được công nhận đáp ứng tiêu chuẩn về năng lực sư phạm dạy trình độ cao đẳng quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 6, điểm d khoản 2 Điều 7 và điểm d khoản 2 Điều 8 Thông tư này bao gồm các chứng chỉ sau trở lên: Chứng chỉ sư phạm dạy nghề dạy trình độ trung cấp nghề, cao đẳng nghề; Chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm dạy trình độ cao đẳng, dạy trình độ trung cấp; Chứng chỉ sư phạm dạy nghề; Chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm dạy trình độ cao đẳng; Chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giảng viên đại học, cao đẳng; Chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giảng viên trong cơ sở giáo dục đại học.
Danh sách sáu tấm chứng chỉ tại Thông tư 25/2026/TT-BGDĐT.
| Nhóm | Căn cứ | Phạm vi được công nhận |
|---|---|---|
| Sáu tấm nhóm trên | điểm a khoản 7 Điều 13 Thông tư 24/2026/TT-BGDĐT | trung cấp, và cả sáu đều có mặt trong danh sách cao đẳng |
| Ba tấm nhóm dưới | điểm b khoản 7 Điều 13 Thông tư 24/2026/TT-BGDĐT | chỉ trung cấp |
| Danh sách của cao đẳng | khoản 6 Điều 9 Thông tư 25/2026/TT-BGDĐT | sáu tấm, trùng với nhóm trên |
| Danh sách của sơ cấp | khoản 8 Điều 13 Thông tư 24/2026/TT-BGDĐT | rộng hơn, gồm cả nhóm của trung cấp |

Ngày 09/4/2026 có hai thông tư cùng ra và cùng có hiệu lực ngay. Thông tư 24/2026/TT-BGDĐT dành cho giáo viên sơ cấp và giáo viên trung cấp, Thông tư 25/2026/TT-BGDĐT dành cho giảng viên cao đẳng. Tra nhầm bản là tra nhầm danh sách. Ba tấm chỉ có ở bản trung cấp là chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm dạy trình độ trung cấp, chứng chỉ bồi dưỡng sư phạm bậc 2 và chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm giáo viên trung cấp chuyên nghiệp.
Năng lực là yêu cầu, chứng chỉ là cách chứng minh
Điều đáng chú ý là chữ phù hợp với trình độ giảng dạy. Năng lực sư phạm ở đây gắn với một trình độ cụ thể, chứ không phải một khả năng chung chung dùng cho mọi cấp học. Miễn cho người học ngành sư phạm. Giấy là cách chứng minh thôi. Gắn với một trình độ cụ thể.
Giảng viên, giáo viên quy định tại khoản 1 Điều này nếu không tốt nghiệp ngành đào tạo giáo viên thì phải có năng lực sư phạm phù hợp với trình độ giảng dạy.
Yêu cầu về năng lực sư phạm tại Luật Giáo dục nghề nghiệp số 124/2025/QH15.
Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định bằng cử nhân hoặc văn bằng trình độ tương đương trở lên một số ngành đào tạo của giáo dục đại học được dạy thực hành; năng lực sư phạm và năng lực thực hành nghề của giảng viên, giáo viên; chương trình bồi dưỡng năng lực sư phạm và khung chương trình bồi dưỡng năng lực thực hành nghề; việc đánh giá, công nhận năng lực sư phạm, năng lực thực hành nghề; tiêu chuẩn cơ sở thực hiện bồi dưỡng và đánh giá.
Khoản 6 Điều 22 Luật Giáo dục nghề nghiệp số 124/2025/QH15, phần giao việc cho Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Điều 22 Luật Giáo dục nghề nghiệp số 124/2025/QH15 là điều gốc của toàn bộ chủ đề này. Luật có hiệu lực từ ngày 01/01/2026, và khoản 6 giao Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định chương trình bồi dưỡng năng lực sư phạm, cách đánh giá công nhận năng lực đó, cùng tiêu chuẩn của cơ sở được làm việc bồi dưỡng và đánh giá. Đây là phần còn để trống tính tới ngày 20/8/2026. Còn quyền và nghĩa vụ của giảng viên, giáo viên cơ hữu thì khoản 1 Điều 23 giao cho Luật Nhà giáo.
Giáo viên trung cấp hay giảng viên cao đẳng
Cách sắp xếp này thay cho lối gọi cũ theo lý thuyết và thực hành. Ranh giới nay là trình độ của chương trình, không phải phần việc trong lớp. Mỗi vai một bộ chuẩn. Định vị mình trước đã. Hỏi mình dạy chương trình gì.
Giảng viên cao đẳng là người giảng dạy chương trình cao đẳng; giáo viên trung học nghề là người giảng dạy chương trình giáo dục trung học nghề; giáo viên trung cấp là người giảng dạy chương trình trung cấp; giáo viên sơ cấp là người giảng dạy chương trình sơ cấp.
Cách phân vai theo chương trình tại Luật Giáo dục nghề nghiệp số 124/2025/QH15.
Sau khi chia vai, khoản 2 Điều 21 chia tiếp theo cách làm việc. Bốn hình thức là cơ hữu, đồng cơ hữu, hợp đồng toàn thời gian sau khi nghỉ hưu và thỉnh giảng, và không hình thức nào được miễn Điều 22. Trung học nghề là tên mới. Trường nào không quyết định vai nào.

Người dạy nghề trong luật là ai
Chữ dạy nghề trong tên tấm giấy và chữ người dạy nghề trong luật chỉ hai thứ khác nhau. Một bên là tên gọi quen thuộc của một chương trình bồi dưỡng, một bên là một vai làm việc trong doanh nghiệp. Hai cụm từ, hai thứ khác nhau. Chế độ do cơ sở quy định. Trong trường hay trong doanh nghiệp.
Người dạy nghề là nhân sự khác theo quy định của Luật Giáo dục thực hiện nhiệm vụ giảng dạy, hướng dẫn thực hành tại doanh nghiệp, hợp tác xã để thực hiện các chương trình giáo dục nghề nghiệp.
Trích nguyên văn vai người dạy nghề tại Luật Giáo dục nghề nghiệp số 124/2025/QH15.
Khoản 3 Điều 6 của cùng quyển luật liệt kê đủ những gì cơ sở hoạt động giáo dục nghề nghiệp được cấp cho người học, gồm bằng cao đẳng, bằng trung cấp, bằng trung học nghề hoặc giấy chứng nhận hoàn thành chương trình, chứng chỉ sơ cấp và chứng chỉ đào tạo. Chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm không nằm trong danh sách đó vì nó là giấy dành cho người đi dạy. Nơi làm việc là chỗ phân biệt. Vai này nằm ngoài bốn chức danh.
Có chứng chỉ sư phạm mới xong một nửa
Vế thứ nhất là năng lực sư phạm, có mệnh đề miễn trừ cho người tốt nghiệp ngành đào tạo giáo viên. Vế thứ hai là chứng chỉ bồi dưỡng chuẩn nghề nghiệp, và vế này không có ngoại lệ nào. Hai vế, không phải một. Chương trình thứ hai chưa có. Tên hai tấm giấy khác nhau.
Giáo viên trung cấp hạng III, hạng II và hạng I phải có năng lực sư phạm dạy trình độ trung cấp (đối với giáo viên không tốt nghiệp ngành đào tạo giáo viên); có chứng chỉ bồi dưỡng chuẩn nghề nghiệp giáo viên trung cấp. Việc đánh giá, công nhận năng lực sư phạm thực hiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Khoản 4 Điều 11 Thông tư 24/2026/TT-BGDĐT, tiêu chuẩn về trình độ đào tạo và bồi dưỡng của giáo viên trung cấp.
Bên nhánh cao đẳng, tên tấm giấy thứ hai là chứng chỉ bồi dưỡng chuẩn nghề nghiệp giảng viên cao đẳng, quy định tại điểm e khoản 2 Điều 6 Thông tư 25/2026/TT-BGDĐT. Điểm đ liền trước là vế năng lực sư phạm. Hai vế này lặp lại ở cả ba bậc. Vế sau không có ngoại lệ. Đọc hết khoản rồi hãy kết luận.
Điều khoản chuyển tiếp nói gì
Điểm dễ nhớ là cả hai thông tư dùng chung một bộ mốc. Khoản 1, khoản 2 và khoản 3 của Điều 13 Thông tư 24 nói y hệt khoản 1, khoản 2 và khoản 3 của Điều 9 Thông tư 25. Ba mốc, ba nhóm người. Giữ lại quyết định tuyển dụng. Đồng hồ thứ ba chưa chạy.
Trường hợp chưa có chứng chỉ bồi dưỡng quy định tại khoản 1 Điều này thì phải hoàn thiện đáp ứng yêu cầu về chứng chỉ bồi dưỡng chuẩn nghề nghiệp giáo viên sơ cấp hoặc giáo viên trung cấp trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày chương trình bồi dưỡng chuẩn nghề nghiệp giáo viên sơ cấp, giáo viên trung cấp có hiệu lực thi hành.
Nguyên văn điểm b khoản 3 Điều 13 Thông tư 24/2026/TT-BGDĐT.
Xếp theo nhóm người thì dễ nhớ hơn. Ai vào vị trí việc làm trước ngày 09/4/2026 được miễn vế chứng chỉ bồi dưỡng chuẩn nghề nghiệp. Ai đang giữ chứng chỉ bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp cấp trước ngày 31/12/2026 thì tấm ấy được tính tương đương. Ai vào vị trí sau đó mà chưa có gì thì có 12 tháng kể từ ngày chương trình bồi dưỡng có hiệu lực, và ngày ấy chưa tới.

Cửa vào không đi qua tấm chứng chỉ nào
Có một cửa vào không đi qua bất kỳ tấm chứng chỉ sư phạm nào. Nó dành cho người có tay nghề, và luật ghi ngưỡng rất cụ thể. Cửa này không đi qua chứng chỉ. Kiểm lại giấy tờ mình đang giữ. Tay nghề cũng là căn cứ.
| Loại giấy | Dạy thực hành trung cấp | Dạy thực hành cao đẳng |
|---|---|---|
| Chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia | bậc 2 trở lên | bậc 3 trở lên |
| Chứng nhận bậc thợ | 4 trên 7 hoặc 3 trên 6 trở lên | 5 trên 7 hoặc 4 trên 6 trở lên |
| Danh hiệu | Nghệ nhân ưu tú, Nghệ sĩ ưu tú, Thầy thuốc ưu tú, Nhà giáo ưu tú trở lên | |
| Chứng chỉ nước ngoài | bậc 4 Khung trình độ quốc gia của Đức, Diploma và Advanced Diploma của Úc, bậc 3 của Malaysia trở lên | |

Về phần chương trình học, con số 280 giờ của Phụ lục I Thông tư 06/2022/TT-BLĐTBXH vẫn là thứ đang được dạy cho nhánh cao đẳng và trung cấp, vì chưa có văn bản nào thay nó tính tới ngày 20/8/2026.
Trung cấp đánh hạng, cao đẳng gọi chức danh
Việc gộp này giải thích vì sao chuẩn nghề nghiệp mới lại tách vế năng lực sư phạm khỏi vế năng lực thực hành nghề. Một chức danh, hai vế điều kiện. Hai mã cũ đã rời bảng. Mã số ghi trong quyết định bổ nhiệm. Hai nhánh, hai cách gọi.
| Bậc | Trung cấp | Cao đẳng |
|---|---|---|
| Bậc thấp nhất | V.09.02.07, loại A0 hoặc A1 | V.09.02.03, loại A0 hoặc A1 |
| Bậc giữa | V.09.02.06, A2.1 từ 4,40 đến 6,78 | V.09.02.02, A2.1 từ 4,40 đến 6,78 |
| Bậc cao nhất | V.09.02.05, A3.2 từ 5,75 đến 7,55 | V.09.02.01, A3.1 từ 6,20 đến 8,00 |
| Văn bản | Điều 12 Thông tư 31/2026/TT-BGDĐT | Điều 13 Thông tư 31/2026/TT-BGDĐT |

Từ ngày 14/4/2026, Thông tư 31/2026/TT-BGDĐT gộp chức danh dạy lý thuyết với chức danh dạy thực hành làm một ở mỗi trình độ. Giáo viên trung cấp hạng III mang mã số V.09.02.07, còn chức danh giảng viên của nhánh cao đẳng mang mã số V.09.02.03. Hai mã cũ V.09.02.08 và V.09.02.04 vì thế biến mất khỏi bảng. Hệ số lương của từng chức danh lấy theo Nghị định 204/2004/NĐ-CP.
Toàn văn thông tư về mã số và xếp lương đăng tại Cổng Xây dựng chính sách, pháp luật. Mã số nối chuẩn với lương.
Giờ lý thuyết và giờ thực hành không bằng nhau
Hai trình độ có cùng tổng số tuần làm việc nhưng chia khác nhau. Nhánh cao đẳng dành nhiều tuần hơn cho bồi dưỡng và nghiên cứu. Giờ chuẩn không bằng giờ đồng hồ. Cùng tổng số tuần, chia khác nhau. Định mức khác nhau theo trình độ.
Điều 7 và Điều 8 Thông tư 05/2026/TT-BGDĐT đặt ra hai con số cho mỗi trình độ. Nhà giáo dạy cao đẳng làm 44 tuần với 32 tuần đứng lớp, định mức từ 350 đến 450 giờ chuẩn. Nhà giáo dạy trung cấp cũng 44 tuần nhưng 36 tuần đứng lớp, định mức từ 400 đến 510 giờ chuẩn. Thông tư này có hiệu lực từ ngày 12/02/2026.
Cách quy đổi nằm ở khoản 2 Điều 5. Một giờ lý thuyết dài 45 phút, một giờ tích hợp và một giờ thực hành dài 60 phút, cả ba đều được tính bằng 01 giờ chuẩn. Đọc phần quy đổi trước khi ký. Đưa kế hoạch vào từ đầu năm học.
Trình độ mới và bộ chức danh đi kèm
Với người chuẩn bị hồ sơ, điều rút ra là nên hỏi rõ mình sẽ được bổ nhiệm vào chức danh nào trước khi đăng ký một khóa học nào đó. Theo dõi văn bản mới định kỳ. Chức danh mới, mã số mới. Chưa lên Công báo nên dẫn dè dặt.
Thông tư 64/2026/TT-BGDĐT có hiệu lực ngay từ ngày ban hành là 10/8/2026. Đây là lần đầu chức danh giáo viên trung học nghề có mã số riêng, gồm V.09.02.14 cho hạng III, V.09.02.13 cho hạng II và V.09.02.12 cho hạng I. Vì văn bản chưa lên Công báo tính tới ngày 20/8/2026, phần dẫn dưới đây dừng ở những chi tiết đã được hai nguồn độc lập xác nhận.
Hai bản tin cùng đưa nội dung này là bài đăng ngày 16/8/2026 trên Báo Chính phủ và bài đăng ngày 15/8/2026 trên Báo Tin tức. Văn bản mới nhất của mảng này.
Số liệu cả nước, không tách theo tỉnh
Phần lớn người học của hệ này nằm ở trình độ sơ cấp và đào tạo thường xuyên. Nhánh trung cấp và cao đẳng nhỏ hơn nhiều nhưng đòi hỏi chuẩn cao hơn. Đây là nhu cầu thật của hệ thống. Nhánh trung cấp và cao đẳng nhỏ hơn. Dư địa còn rất lớn.
| Nhóm số liệu | Nội dung |
|---|---|
| Quy mô hệ thống | 373 trường cao đẳng và trung cấp công lập |
| Quy mô tuyển sinh | khoảng 2,1 triệu người năm 2026 |
| Nhánh trung cấp và cao đẳng | khoảng 450.000 người |
| Gắn kết doanh nghiệp | trên 85% cơ sở, hơn 7.200 doanh nghiệp |
Các con số trên lấy từ bản tin ngày 04/7/2026 về hội nghị phát triển giáo dục nghề nghiệp năm 2026, dẫn phát biểu của Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng Sở Giáo dục và Đào tạo Thành phố Hồ Chí Minh. Không có thống kê tách riêng đội ngũ nhà giáo theo từng tỉnh. Con số nói rõ hơn lời rao.
Sóc Trăng nay là một phần của thành phố Cần Thơ
Theo khoản 19 Điều 1 Nghị quyết 202/2025/QH15, toàn bộ diện tích tự nhiên và quy mô dân số tỉnh Sóc Trăng được sắp xếp cùng tỉnh Hậu Giang và thành phố Cần Thơ. Hồ sơ đổi tên tỉnh thôi. Nghị quyết vẽ lại bản đồ, không vẽ lại chuẩn.
Thành phố mới có 6.360,83 km² và 4.199.824 người. Cơ sở đào tạo nghề trên địa bàn Sóc Trăng cũ ghi địa chỉ theo đơn vị mới. Việc bổ nhiệm chức danh và xếp lương thì theo thông tư của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Đầu mối quản lý gộp lại. Thông tư áp chung cả nước.

Xem thêm bài cùng chủ đề tại Cần Thơ, Bạc Liêu, TP. Hồ Chí Minh. Địa giới đổi, điều kiện không đổi.
Ba mã số của chức danh giáo viên trung cấp
Mã số là thứ ghi trong quyết định bổ nhiệm, nên rất dễ kiểm. Một câu hỏi mất mười giây. Đi từ cơ sở đào tạo, đừng đi từ quảng cáo.
Khoản 7 Điều 2 Thông tư 31/2026/TT-BGDĐT quy định giáo viên trung cấp hạng III mang mã số V.09.02.07, hạng II mang mã số V.09.02.06 và hạng I mang mã số V.09.02.05. Điều 12 cùng thông tư gắn mỗi hạng với một bảng lương theo Nghị định 204/2004/NĐ-CP. Người ở Sóc Trăng cũ mở quyết định bổ nhiệm của mình ra là đối chiếu được ngay. Biết mã số rồi thì biết mình chịu bộ chuẩn nào, vì Thông tư 24/2026/TT-BGDĐT quy định chuẩn nghề nghiệp theo từng hạng của chức danh đó. Biết mình thiếu vế nào đã. Số hiệu văn bản là thứ cần nhất.
Các mảng liên quan cùng địa bàn gồm chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm tại Sóc Trăng, chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm sơ cấp tại Sóc Trăng và chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm đại học tại Sóc Trăng. Mỗi mảng đi theo một hệ văn bản riêng. Đọc điều khoản trước khi đóng tiền.
Bộ điều kiện ở mảng này nằm rải trên một đạo luật và bốn thông tư, nên đọc thiếu là hiểu sai. Đọc đủ thì đường đi khá rõ. Với câu hỏi về hướng nâng cao trình độ, có thể liên hệ qua trang liên hệ.
Giải đáp nhanh
Mã số chức danh giáo viên trung cấp là gì?
Khoản 7 Điều 2 Thông tư 31/2026/TT-BGDĐT quy định giáo viên trung cấp hạng III mã số V.09.02.07, hạng II mã số V.09.02.06 và hạng I mã số V.09.02.05.
Người dạy nghề trong doanh nghiệp có phải học chứng chỉ này không?
Khoản 4 Điều 21 Luật Giáo dục nghề nghiệp số 124/2025/QH15 xếp người dạy nghề vào nhóm nhân sự khác, không phải một trong bốn chức danh nhà giáo. Khoản 5 Điều 22 giao Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định tiêu chuẩn riêng cho vai này.
Bài viết cập nhật ngày 20/8/2026, căn cứ Điều 6, Điều 21, Điều 22 và Điều 23 Luật Giáo dục nghề nghiệp số 124/2025/QH15 cùng bốn thông tư năm 2026. Bản gốc đọc ở Công báo Chính phủ.
