Trả lời nhanh: Cần Thơ là đầu mối đào tạo nghề của cả vùng đồng bằng sông Cửu Long. Với trình độ cao đẳng, danh sách văn bằng được dạy thực hành nằm ở một điều riêng của thông tư khác. Cụm chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm dạy nghề có tên nguyên văn tại điểm a khoản 7 Điều 13 Thông tư 24/2026/TT-BGDĐT, trong danh sách chứng chỉ được công nhận cho trình độ trung cấp. Trình độ cao đẳng có một danh sách riêng ở khoản 6 Điều 9 Thông tư 25/2026/TT-BGDĐT. Người ở Cần Thơ nên đối chiếu hồ sơ của mình với đúng trình độ mình sẽ dạy.
Một dòng trong danh sách được công nhận
Trong hệ giáo dục nghề nghiệp hiện nay có ba tấm giấy hay bị gọi lẫn thành một. Chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm dạy nghề, chứng chỉ bồi dưỡng chuẩn nghề nghiệp, và chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia. Ba tấm, ba vai trò khác nhau trong hồ sơ. Câu trả lời tồn tại, nên hãy hỏi. Một dòng trong danh sách, không hơn. Đọc tên đầy đủ trước khi đọc giá.
Chứng chỉ được công nhận đáp ứng tiêu chuẩn về năng lực sư phạm dạy trình độ trung cấp quy định tại Thông tư này bao gồm các chứng chỉ sau trở lên: a) Chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm dạy trình độ cao đẳng, trình độ trung cấp; Chứng chỉ sư phạm dạy nghề dạy trình độ trung cấp nghề, cao đẳng nghề; Chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm dạy nghề; Chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm dạy trình độ cao đẳng; Chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giảng viên đại học, cao đẳng; Chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giảng viên trong cơ sở giáo dục đại học; b) Chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm dạy trình độ trung cấp; Chứng chỉ bồi dưỡng sư phạm bậc 2; Chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm giáo viên trung cấp chuyên nghiệp.
Khoản 7 Điều 13 của Thông tư 24/2026/TT-BGDĐT, chia làm điểm a và điểm b.
Danh sách của cao đẳng ngắn hơn
Một tấm chứng chỉ có thể đủ điều kiện cho trình độ này mà chưa đủ cho trình độ kia. Đó là kết quả trực tiếp của việc hai thông tư liệt kê hai danh sách khác nhau. Chỗ chênh nằm ở điểm b. Xác định trình độ trước, tra sau. Bản cao đẳng ngắn hơn ba dòng.
Chứng chỉ được công nhận đáp ứng tiêu chuẩn về năng lực sư phạm dạy trình độ cao đẳng quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 6, điểm d khoản 2 Điều 7 và điểm d khoản 2 Điều 8 Thông tư này bao gồm các chứng chỉ sau trở lên: Chứng chỉ sư phạm dạy nghề dạy trình độ trung cấp nghề, cao đẳng nghề; Chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm dạy trình độ cao đẳng, dạy trình độ trung cấp; Chứng chỉ sư phạm dạy nghề; Chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm dạy trình độ cao đẳng; Chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giảng viên đại học, cao đẳng; Chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giảng viên trong cơ sở giáo dục đại học.
Khoản 6 Điều 9 của Thông tư 25/2026/TT-BGDĐT, sáu tấm và không có nhóm điểm b.
| Câu hỏi | Trung cấp | Cao đẳng |
|---|---|---|
| Danh sách nằm ở đâu | khoản 7 Điều 13 Thông tư 24/2026/TT-BGDĐT | khoản 6 Điều 9 Thông tư 25/2026/TT-BGDĐT |
| Số tấm được liệt kê | chín | sáu |
| Có tên chứng chỉ dạy nghề không | có | có |
| Bồi dưỡng sư phạm bậc 2 | có | không |
| Ai được miễn cả danh sách | người tốt nghiệp ngành đào tạo giáo viên | |

Hai văn bản cần đọc song song. Thông tư 24/2026/TT-BGDĐT quy định chuẩn nghề nghiệp giáo viên sơ cấp và giáo viên trung cấp, còn Thông tư 25/2026/TT-BGDĐT quy định chuẩn nghề nghiệp giảng viên cao đẳng. Cả hai cùng ban hành ngày 09/4/2026 và cùng có hiệu lực từ chính ngày đó. Ba tấm ở điểm b khoản 7 Điều 13 gồm chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm dạy trình độ trung cấp, chứng chỉ bồi dưỡng sư phạm bậc 2 và chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm giáo viên trung cấp chuyên nghiệp thì vắng mặt trong danh sách của cao đẳng.
Năng lực là yêu cầu, chứng chỉ là cách chứng minh
Quyển luật gốc không nêu tên tấm chứng chỉ nào. Thứ nó đòi là một năng lực, và tấm giấy chỉ là cách chứng minh năng lực ấy. Hiểu đúng thứ tự này thì đọc phần còn lại rất nhanh. Gắn với một trình độ cụ thể. Miễn cho người học ngành sư phạm. Giấy là cách chứng minh thôi.
Giảng viên, giáo viên quy định tại khoản 1 Điều này nếu không tốt nghiệp ngành đào tạo giáo viên thì phải có năng lực sư phạm phù hợp với trình độ giảng dạy.
Khoản 3 Điều 22 của Luật Giáo dục nghề nghiệp số 124/2025/QH15, hiệu lực từ ngày 01/01/2026.
Giảng viên cao đẳng, giáo viên trung cấp, giáo viên trung học nghề vừa dạy lý thuyết vừa dạy thực hành phải đáp ứng đồng thời quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều này.
Khoản 4 Điều 22 Luật Giáo dục nghề nghiệp số 124/2025/QH15, phần về người vừa dạy lý thuyết vừa dạy thực hành.
Từ ngày 01/01/2026, Luật Giáo dục nghề nghiệp số 124/2025/QH15 thay cho Luật Giáo dục nghề nghiệp số 74/2014/QH13. Điều 22 của quyển luật mới đặt ra trình độ chuẩn được đào tạo cho cả bốn chức danh, và khoản 6 của điều này giao lại cho Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo bảy nhóm việc, trong đó có tiêu chuẩn cơ sở thực hiện bồi dưỡng và đánh giá. Nhóm việc ấy tới ngày 20/8/2026 chưa có văn bản. Riêng quyền và nghĩa vụ của người cơ hữu thì khoản 1 Điều 23 dẫn sang Luật Nhà giáo.
Bốn vai giảng dạy trong hệ giáo dục nghề nghiệp
Danh sách bốn vai có một cái tên hoàn toàn mới so với hệ văn bản cũ. Giáo viên trung học nghề gắn với trình độ giáo dục trung học nghề mà quyển luật này lập ra. Trung học nghề là tên mới. Mỗi vai một bộ chuẩn. Bốn vai, chia theo chương trình.
Giảng viên cao đẳng là người giảng dạy chương trình cao đẳng; giáo viên trung học nghề là người giảng dạy chương trình giáo dục trung học nghề; giáo viên trung cấp là người giảng dạy chương trình trung cấp; giáo viên sơ cấp là người giảng dạy chương trình sơ cấp.
Nguyên văn Điều 21 Luật Giáo dục nghề nghiệp số 124/2025/QH15, câu mở đầu chương về nhà giáo.
Khoản 2 Điều 21 chia tiếp theo hình thức làm việc, gồm cơ hữu, đồng cơ hữu, hợp đồng toàn thời gian sau khi nghỉ hưu và thỉnh giảng. Cả bốn hình thức đều chịu trình độ chuẩn của Điều 22. Hỏi mình dạy chương trình gì. Định vị mình trước đã.

Chữ dạy nghề xuất hiện ở hai chỗ khác nhau
Vai này gắn với nơi làm việc chứ không gắn với trường. Luật nói rõ là giảng dạy và hướng dẫn thực hành tại doanh nghiệp, hợp tác xã. Vai này nằm ngoài bốn chức danh. Nơi làm việc là chỗ phân biệt. Chế độ do cơ sở quy định.
Người dạy nghề là nhân sự khác theo quy định của Luật Giáo dục thực hiện nhiệm vụ giảng dạy, hướng dẫn thực hành tại doanh nghiệp, hợp tác xã để thực hiện các chương trình giáo dục nghề nghiệp.
Định nghĩa người dạy nghề tại Luật Giáo dục nghề nghiệp số 124/2025/QH15.
Đọc thêm khoản 3 Điều 6 thì ranh giới rõ hơn. Danh sách văn bằng, chứng chỉ mà cơ sở hoạt động giáo dục nghề nghiệp được cấp gồm năm loại, và cả năm đều dành cho người học nghề. Tấm chứng chỉ sư phạm không có tên trong đó, vì nó là giấy chứng nhận hoàn thành một chương trình bồi dưỡng cho người đứng lớp. Trong trường hay trong doanh nghiệp. Đọc khoản 4 trước khi tìm lớp.
Phần còn thiếu của bộ hồ sơ
Cách trình bày của hai thông tư giống nhau tới từng câu, chỉ đổi tên chức danh. Điều đó cho thấy đây là một thiết kế có chủ đích chứ không phải chi tiết ngẫu nhiên. Tên hai tấm giấy khác nhau. Hai vế, không phải một. Chương trình thứ hai chưa có.
Giáo viên trung cấp hạng III, hạng II và hạng I phải có năng lực sư phạm dạy trình độ trung cấp (đối với giáo viên không tốt nghiệp ngành đào tạo giáo viên); có chứng chỉ bồi dưỡng chuẩn nghề nghiệp giáo viên trung cấp. Việc đánh giá, công nhận năng lực sư phạm thực hiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Khoản 4 Điều 11 Thông tư 24/2026/TT-BGDĐT, tiêu chuẩn về trình độ đào tạo và bồi dưỡng của giáo viên trung cấp.
Điểm đ và điểm e khoản 2 Điều 6 Thông tư 25/2026/TT-BGDĐT đặt ra đúng hai vế ấy cho nhánh cao đẳng, với tên tấm giấy thứ hai là chứng chỉ bồi dưỡng chuẩn nghề nghiệp giảng viên cao đẳng. Hai điểm này lặp lại ở Điều 7 và Điều 8 dành cho giảng viên chính và giảng viên cao cấp. Một nửa yêu cầu vẫn là một nửa. Vế sau không có ngoại lệ.
Ngày 09/4/2026 chia người trong nghề làm hai
Ngày hiệu lực chia người trong nghề thành hai nhóm. Nhóm vào vị trí việc làm trước ngày đó được miễn vế chứng chỉ mới, nhóm vào sau thì không. Giữ lại quyết định tuyển dụng. Đồng hồ thứ ba chưa chạy. Ba mốc, ba nhóm người.
Trường hợp chưa có chứng chỉ bồi dưỡng quy định tại khoản 1 Điều này thì phải hoàn thiện đáp ứng yêu cầu về chứng chỉ bồi dưỡng chuẩn nghề nghiệp giáo viên sơ cấp hoặc giáo viên trung cấp trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày chương trình bồi dưỡng chuẩn nghề nghiệp giáo viên sơ cấp, giáo viên trung cấp có hiệu lực thi hành.
Trích nguyên văn cách tính thời hạn tại Thông tư 24/2026/TT-BGDĐT.
Ba con số của điều khoản chuyển tiếp là 09/4/2026, 31/12/2026 và 12 tháng. Mốc đầu chia người trong nghề thành nhóm được miễn và nhóm phải làm. Mốc giữa quyết định một tấm giấy cũ còn được tính tương đương hay không. Còn thời hạn cuối tính từ ngày chương trình bồi dưỡng chuẩn nghề nghiệp có hiệu lực, nên tới nay vẫn chưa khởi động.

Ngưỡng của cao đẳng cao hơn một bậc
Cần phân biệt hai vế trong hồ sơ. Năng lực thực hành nghề thay cho văn bằng, còn năng lực sư phạm là vế khác và vẫn phải chứng minh riêng. Tay nghề cũng là căn cứ. Hai vế vẫn phải chứng minh riêng. Cao đẳng cao hơn một bậc.
| Loại giấy | Dạy thực hành trung cấp | Dạy thực hành cao đẳng |
|---|---|---|
| Chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia | bậc 2 trở lên | bậc 3 trở lên |
| Chứng nhận bậc thợ | 4 trên 7 hoặc 3 trên 6 trở lên | 5 trên 7 hoặc 4 trên 6 trở lên |
| Danh hiệu | Nghệ nhân ưu tú, Nghệ sĩ ưu tú, Thầy thuốc ưu tú, Nhà giáo ưu tú trở lên | |
| Chứng chỉ nước ngoài | bậc 4 Khung trình độ quốc gia của Đức, Diploma và Advanced Diploma của Úc, bậc 3 của Malaysia trở lên | |

Thông tư 06/2022/TT-BLĐTBXH với chương trình 280 giờ ở Phụ lục I tới nay chưa bị thay thế, nên đó vẫn là chương trình các cơ sở dùng cho người dạy trình độ trung cấp và trình độ cao đẳng.
Hai mã số cũ đã rời khỏi bảng
Từ giữa tháng 4 năm 2026, mỗi chức danh trong hệ giáo dục nghề nghiệp có một bộ mã số riêng. Mã số ghi trong quyết định bổ nhiệm nên rất dễ đối chiếu. Mã số nối chuẩn với lương. Hai mã cũ đã rời bảng. Một trình độ, một chức danh.
| Nội dung | Trước ngày 14/4/2026 | Từ ngày 14/4/2026 |
|---|---|---|
| Chức danh ở trình độ trung cấp | tách lý thuyết và thực hành | một chức danh giáo viên trung cấp |
| Chức danh ở trình độ cao đẳng | tách lý thuyết và thực hành | một chức danh giảng viên cao đẳng |
| Mã số không còn dùng | V.09.02.08 và V.09.02.04 | |
| Nguyên tắc bổ nhiệm | Điều 3 Thông tư 31/2026/TT-BGDĐT, phải đạt chuẩn nghề nghiệp của chức danh | |

Bảng mã hiện hành nằm ở Điều 2 Thông tư 31/2026/TT-BGDĐT, hiệu lực từ ngày 14/4/2026. Bậc đầu của nhánh trung cấp mang mã số V.09.02.07, bậc đầu của nhánh cao đẳng mang mã số V.09.02.03. Người từng được bổ nhiệm theo mã V.09.02.08 hoặc V.09.02.04 nay chuyển sang hai mã đó. Hệ số lương lấy theo Nghị định 204/2004/NĐ-CP.
Toàn văn thông tư về mã số và xếp lương đăng tại Cổng Xây dựng chính sách, pháp luật. Mã số ghi trong quyết định bổ nhiệm.
Quỹ thời gian dành cho bồi dưỡng
Chi tiết ấy cho thấy chương trình bồi dưỡng năng lực sư phạm được coi là việc của nhà giáo trong cơ sở hoạt động giáo dục nghề nghiệp, không phải việc của một nơi bất kỳ. Tuần bồi dưỡng là quỹ chính thức. Đưa kế hoạch vào từ đầu năm học. Giờ chuẩn không bằng giờ đồng hồ.
Thông tư 05/2026/TT-BGDĐT hiệu lực từ ngày 12/02/2026 quy định chế độ làm việc của nhà giáo giáo dục nghề nghiệp. Hai trình độ đều làm 44 tuần một năm, nhưng nhánh cao đẳng chia thành 32 tuần giảng dạy cộng 12 tuần bồi dưỡng, còn nhánh trung cấp chia thành 36 tuần giảng dạy cộng 08 tuần bồi dưỡng. Định mức là từ 350 đến 450 giờ chuẩn với cao đẳng và từ 400 đến 510 giờ chuẩn với trung cấp.
Khoản 2 Điều 5 quy đổi ba loại giờ giảng về cùng một đơn vị. Lý thuyết 45 phút, tích hợp 60 phút, thực hành 60 phút, và mỗi loại đều bằng 01 giờ chuẩn. Cùng tổng số tuần, chia khác nhau. Đọc phần quy đổi trước khi ký.
Phân công dạy khác với bổ nhiệm chức danh
Văn bản này quá mới nên chưa lên Công báo. Phần thông tin dưới đây lấy từ hai nguồn báo chí độc lập cùng đưa tin, và bài chỉ nêu những chi tiết mà cả hai nguồn thống nhất. Phân công khác với bổ nhiệm. Văn bản mới nhất của mảng này. Chức danh mới, mã số mới.
Thông tư 64/2026/TT-BGDĐT có hiệu lực ngay từ ngày ban hành là 10/8/2026. Đây là lần đầu chức danh giáo viên trung học nghề có mã số riêng, gồm V.09.02.14 cho hạng III, V.09.02.13 cho hạng II và V.09.02.12 cho hạng I. Vì văn bản chưa lên Công báo tính tới ngày 20/8/2026, phần dẫn dưới đây dừng ở những chi tiết đã được hai nguồn độc lập xác nhận.
Hai bản tin cùng đưa nội dung này là bài đăng ngày 16/8/2026 trên Báo Chính phủ và bài đăng ngày 15/8/2026 trên Báo Tin tức. Chưa lên Công báo nên dẫn dè dặt.
Bối cảnh của các quy định về chuẩn
Quy mô của hệ giáo dục nghề nghiệp giải thích vì sao nhu cầu chuẩn hóa đội ngũ lại lớn tới vậy. Vài con số công bố giữa năm 2026 cho thấy điều đó. Con số nói rõ hơn lời rao. Đây là nhu cầu thật của hệ thống. Đọc số liệu cùng với quy định.
| Trình độ | Chỉ tiêu tuyển sinh 2026 |
|---|---|
| Trung cấp và cao đẳng | khoảng 450.000 người |
| Sơ cấp và đào tạo thường xuyên | khoảng 1,7 triệu người |
| Tổng cộng | khoảng 2,1 triệu người |
| Nhóm ngành công nghệ thông tin, tự động hóa, bán dẫn năm 2025 | khoảng 92.000 người |
Các con số trên lấy từ bản tin ngày 04/7/2026 về hội nghị phát triển giáo dục nghề nghiệp năm 2026, dẫn phát biểu của Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng Sở Giáo dục và Đào tạo Thành phố Hồ Chí Minh. Không có thống kê tách riêng đội ngũ nhà giáo theo từng tỉnh. Nhánh trung cấp và cao đẳng nhỏ hơn.
Cần Thơ giữ tên sau khi hợp nhất ba đơn vị
Khoản 19 Điều 1 Nghị quyết 202/2025/QH15 sắp xếp tỉnh Sóc Trăng, tỉnh Hậu Giang và thành phố Cần Thơ thành một thành phố mới, vẫn mang tên thành phố Cần Thơ. Thông tư áp chung cả nước. Đầu mối quản lý gộp lại.
Thành phố sau sắp xếp rộng 6.360,83 km² với 4.199.824 người. Số trường cao đẳng nằm trên một địa bàn tăng lên rõ rệt. Điều kiện với người giảng dạy do thông tư của Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định thống nhất. Không có quy định riêng cho tỉnh nào. Địa giới đổi, điều kiện không đổi.

Xem thêm bài cùng chủ đề tại Sóc Trăng, Hậu Giang, Kiên Giang. Nghị quyết vẽ lại bản đồ, không vẽ lại chuẩn.
Điều 4 Thông tư 25 là bản dành riêng cho trình độ cao đẳng
Hai thông tư, hai điều song song, nội dung không hoàn toàn trùng nhau. Kiểm phạm vi, kiểm trình độ. Đọc điều khoản trước khi đóng tiền.
Điều 4 Thông tư 25/2026/TT-BGDĐT liệt kê văn bằng của giáo dục đại học đáp ứng tiêu chuẩn để dạy thực hành trình độ cao đẳng, và nó là bản song song với Điều 5 Thông tư 24/2026/TT-BGDĐT dành cho trung cấp. Điểm b khoản 2 Điều 6 Thông tư 25 cho phép người dạy thực hành cao đẳng dùng bằng cao đẳng, hoặc văn bằng nêu tại Điều 4, hoặc năng lực thực hành nghề. Ba con đường, chọn một là đủ. Người ở Cần Thơ chuẩn bị hồ sơ nên đọc đúng thông tư ứng với trình độ mình sẽ dạy, vì hai bản có chỗ khác nhau. Số hiệu văn bản là thứ cần nhất. Biết mình thiếu vế nào đã.
Các mảng liên quan cùng địa bàn gồm chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm tại Cần Thơ, chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm sơ cấp tại Cần Thơ và chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm đại học tại Cần Thơ. Mỗi mảng đi theo một hệ văn bản riêng. Đi từ cơ sở đào tạo, đừng đi từ quảng cáo.
Cách chuẩn bị ít rủi ro nhất là đi từ cơ sở đào tạo chứ không đi từ một quảng cáo. Người ký tấm chứng chỉ phải là người đứng đầu một cơ sở bồi dưỡng có thật. Cần tư vấn thêm thì liên hệ qua trang liên hệ.
Hỏi và đáp về điều kiện giảng dạy
Người dạy thực hành trình độ cao đẳng có mấy cách chứng minh văn bằng?
Điểm b khoản 2 Điều 6 Thông tư 25/2026/TT-BGDĐT nêu ba cách, gồm bằng cao đẳng, văn bằng quy định tại Điều 4 của thông tư đó, hoặc năng lực thực hành nghề để dạy thực hành trình độ cao đẳng phù hợp với ngành nghề giảng dạy.
Chương trình bồi dưỡng chuẩn nghề nghiệp đã ban hành chưa?
Tính tới ngày 20/8/2026 chưa tra được văn bản ban hành chương trình bồi dưỡng chuẩn nghề nghiệp giáo viên trung cấp hay giảng viên cao đẳng. Thời hạn 12 tháng tại điểm b khoản 3 Điều 13 Thông tư 24/2026/TT-BGDĐT tính từ ngày chương trình đó có hiệu lực, nên chưa bắt đầu chạy.
Ngày cập nhật 20/8/2026. Căn cứ gồm Luật Giáo dục nghề nghiệp số 124/2025/QH15 hiệu lực từ 01/01/2026, Thông tư 24/2026/TT-BGDĐT và Thông tư 25/2026/TT-BGDĐT cùng hiệu lực từ 09/4/2026. Toàn văn luật tại Công báo Chính phủ.
