Trả lời nhanh: Có một khoản trong thông tư về chế độ làm việc cho thấy chương trình bồi dưỡng năng lực sư phạm đã được luật tính tới. Người ở Cà Mau muốn kiểm căn cứ của một khóa học có thể dùng chi tiết này. Có hai danh sách chứng chỉ được công nhận, một cho trung cấp và một cho cao đẳng. Ba tấm ở điểm b khoản 7 Điều 13 Thông tư 24/2026/TT-BGDĐT không có tên trong danh sách của trình độ cao đẳng. Người ở Cà Mau theo đúng quy định chung của cả nước.
Tên gọi thị trường và tên gọi trong văn bản
Tên gọi ngoài thị trường và tên gọi trong văn bản ở đây khá gần nhau, chỉ lệch vài chữ giữa hai thông tư. Chính vì gần mà dễ chủ quan. Đọc đúng chữ trong từng văn bản vẫn là việc phải làm. Tên có thật, vấn đề là phạm vi. Đọc tên đầy đủ trước khi đọc giá. Hỏi điểm nào, khoản nào, điều nào.
Chứng chỉ được công nhận đáp ứng tiêu chuẩn về năng lực sư phạm dạy trình độ trung cấp quy định tại Thông tư này bao gồm các chứng chỉ sau trở lên: a) Chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm dạy trình độ cao đẳng, trình độ trung cấp; Chứng chỉ sư phạm dạy nghề dạy trình độ trung cấp nghề, cao đẳng nghề; Chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm dạy nghề.
Khoản 7 Điều 13 của Thông tư 24/2026/TT-BGDĐT, chia làm điểm a và điểm b.
Đủ cho trung cấp chưa chắc đủ cho cao đẳng
Hai bản danh sách nằm trong điều khoản chuyển tiếp của hai thông tư. Vị trí ấy nói lên một điều. Chúng là cách xử lý cho những tấm giấy đã cấp theo hệ văn bản cũ. Bản cao đẳng ngắn hơn ba dòng. Chỗ chênh nằm ở điểm b. Xác định trình độ trước, tra sau.
Chứng chỉ được công nhận đáp ứng tiêu chuẩn về năng lực sư phạm dạy trình độ cao đẳng quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 6, điểm d khoản 2 Điều 7 và điểm d khoản 2 Điều 8 Thông tư này bao gồm các chứng chỉ sau trở lên: Chứng chỉ sư phạm dạy nghề dạy trình độ trung cấp nghề, cao đẳng nghề; Chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm dạy trình độ cao đẳng, dạy trình độ trung cấp; Chứng chỉ sư phạm dạy nghề; Chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm dạy trình độ cao đẳng; Chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giảng viên đại học, cao đẳng; Chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giảng viên trong cơ sở giáo dục đại học.
Trích Thông tư 25/2026/TT-BGDĐT, phần liệt kê chứng chỉ được công nhận cho trình độ cao đẳng.
| Đối chiếu | Có trong danh sách trung cấp | Có trong danh sách cao đẳng |
|---|---|---|
| Nhóm chứng chỉ dạy nghề và dạy cao đẳng | có | có |
| Nhóm chứng chỉ bồi dưỡng cho giảng viên đại học, cao đẳng | có | có |
| Nhóm chứng chỉ dừng ở trung cấp | có | không |
| Hệ quả | một tấm đủ cho trung cấp chưa chắc đủ cho cao đẳng | |

Ngày 09/4/2026 có hai thông tư cùng ra và cùng có hiệu lực ngay. Thông tư 24/2026/TT-BGDĐT dành cho giáo viên sơ cấp và giáo viên trung cấp, Thông tư 25/2026/TT-BGDĐT dành cho giảng viên cao đẳng. Tra nhầm bản là tra nhầm danh sách. Ba tấm chỉ có ở bản trung cấp là chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm dạy trình độ trung cấp, chứng chỉ bồi dưỡng sư phạm bậc 2 và chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm giáo viên trung cấp chuyên nghiệp.
Hai tầng văn bản của cùng một yêu cầu
Người đọc quen với cách nghĩ có giấy là xong sẽ thấy phần này hơi lạ. Nhưng nó chính là chỗ bảo vệ người học, vì nó buộc mọi tấm giấy phải quy được về một danh sách công khai. Giấy là cách chứng minh thôi. Gắn với một trình độ cụ thể. Miễn cho người học ngành sư phạm.
Giảng viên, giáo viên quy định tại khoản 1 Điều này nếu không tốt nghiệp ngành đào tạo giáo viên thì phải có năng lực sư phạm phù hợp với trình độ giảng dạy.
Yêu cầu về năng lực sư phạm tại Luật Giáo dục nghề nghiệp số 124/2025/QH15.
Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định bằng cử nhân hoặc văn bằng trình độ tương đương trở lên một số ngành đào tạo của giáo dục đại học được dạy thực hành; năng lực sư phạm và năng lực thực hành nghề của giảng viên, giáo viên; chương trình bồi dưỡng năng lực sư phạm và khung chương trình bồi dưỡng năng lực thực hành nghề; việc đánh giá, công nhận năng lực sư phạm, năng lực thực hành nghề; tiêu chuẩn cơ sở thực hiện bồi dưỡng và đánh giá.
Khoản 6 Điều 22 Luật Giáo dục nghề nghiệp số 124/2025/QH15, phần giao việc cho Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Quyển luật gốc của mảng này là Luật Giáo dục nghề nghiệp số 124/2025/QH15, Quốc hội thông qua ngày 10 tháng 12 năm 2025 và có hiệu lực từ ngày 01/01/2026. Khoản 6 Điều 22 giao Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định chương trình bồi dưỡng năng lực sư phạm, việc đánh giá và công nhận năng lực ấy, cùng tiêu chuẩn cơ sở thực hiện bồi dưỡng và đánh giá. Tới ngày 20/8/2026 chưa tra được văn bản nào ban hành ba nhóm nội dung đó. Quyền và nghĩa vụ của giảng viên, giáo viên cơ hữu thì theo Luật Nhà giáo, quy định tại khoản 1 Điều 23.
Giáo viên trung cấp hay giảng viên cao đẳng
Cách sắp xếp này thay cho lối gọi cũ theo lý thuyết và thực hành. Ranh giới nay là trình độ của chương trình, không phải phần việc trong lớp. Định vị mình trước đã. Trường nào không quyết định vai nào. Trung học nghề là tên mới.
Giảng viên cao đẳng là người giảng dạy chương trình cao đẳng; giáo viên trung học nghề là người giảng dạy chương trình giáo dục trung học nghề; giáo viên trung cấp là người giảng dạy chương trình trung cấp; giáo viên sơ cấp là người giảng dạy chương trình sơ cấp.
Điều 21 Luật Giáo dục nghề nghiệp số 124/2025/QH15, phần phân vai giảng dạy.
Sau khi chia vai, khoản 2 Điều 21 chia tiếp theo cách làm việc. Bốn hình thức là cơ hữu, đồng cơ hữu, hợp đồng toàn thời gian sau khi nghỉ hưu và thỉnh giảng, và không hình thức nào được miễn Điều 22. Mỗi vai một bộ chuẩn. Bốn vai, chia theo chương trình.

Khoản 4 Điều 21 và ranh giới của nó
Luật giao cho Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định tiêu chuẩn của vai này, và văn bản đó đã có. Nội dung của nó khác với bộ chuẩn dành cho nhà giáo trong trường. Hai cụm từ, hai thứ khác nhau. Chế độ do cơ sở quy định. Trong trường hay trong doanh nghiệp.
Người dạy nghề là nhân sự khác theo quy định của Luật Giáo dục thực hiện nhiệm vụ giảng dạy, hướng dẫn thực hành tại doanh nghiệp, hợp tác xã để thực hiện các chương trình giáo dục nghề nghiệp.
Định nghĩa người dạy nghề tại Luật Giáo dục nghề nghiệp số 124/2025/QH15.
Khoản 3 Điều 6 của cùng quyển luật liệt kê đủ những gì cơ sở hoạt động giáo dục nghề nghiệp được cấp cho người học, gồm bằng cao đẳng, bằng trung cấp, bằng trung học nghề hoặc giấy chứng nhận hoàn thành chương trình, chứng chỉ sơ cấp và chứng chỉ đào tạo. Chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm không nằm trong danh sách đó vì nó là giấy dành cho người đi dạy. Nơi làm việc là chỗ phân biệt. Vai này nằm ngoài bốn chức danh.
Phần còn thiếu của bộ hồ sơ
Có một chi tiết khiến phần này chưa gây khó khăn ngay. Chương trình sinh ra tấm giấy thứ hai chưa được ban hành, nên chưa ai học được nó. Hai vế, không phải một. Chương trình thứ hai chưa có. Tên hai tấm giấy khác nhau.
Giáo viên trung cấp hạng III, hạng II và hạng I phải có năng lực sư phạm dạy trình độ trung cấp (đối với giáo viên không tốt nghiệp ngành đào tạo giáo viên); có chứng chỉ bồi dưỡng chuẩn nghề nghiệp giáo viên trung cấp. Việc đánh giá, công nhận năng lực sư phạm thực hiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Nguyên văn khoản 4 Điều 11 Thông tư 24/2026/TT-BGDĐT, áp cho cả ba hạng.
Điểm đ và điểm e khoản 2 Điều 6 Thông tư 25/2026/TT-BGDĐT đặt ra đúng hai vế ấy cho nhánh cao đẳng, với tên tấm giấy thứ hai là chứng chỉ bồi dưỡng chuẩn nghề nghiệp giảng viên cao đẳng. Hai điểm này lặp lại ở Điều 7 và Điều 8 dành cho giảng viên chính và giảng viên cao cấp. Vế sau không có ngoại lệ. Đọc hết khoản rồi hãy kết luận.
Vì sao đồng hồ 12 tháng chưa chạy
Mốc thứ hai liên quan tới những tấm giấy đã cấp theo hệ văn bản cũ của ngành lao động. Ngày cấp ghi trên giấy quyết định tấm ấy còn được xác định tương đương hay không. Xếp mình vào nhóm nào trước. Ngày cấp ghi trên giấy rất quan trọng. Hai thông tư dùng chung bộ mốc.
Trường hợp chưa có chứng chỉ bồi dưỡng quy định tại khoản 1 Điều này thì phải hoàn thiện đáp ứng yêu cầu về chứng chỉ bồi dưỡng chuẩn nghề nghiệp giáo viên sơ cấp hoặc giáo viên trung cấp trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày chương trình bồi dưỡng chuẩn nghề nghiệp giáo viên sơ cấp, giáo viên trung cấp có hiệu lực thi hành.
Thời hạn 12 tháng quy định tại Thông tư 24/2026/TT-BGDĐT.
Xếp theo nhóm người thì dễ nhớ hơn. Ai vào vị trí việc làm trước ngày 09/4/2026 được miễn vế chứng chỉ bồi dưỡng chuẩn nghề nghiệp. Ai đang giữ chứng chỉ bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp cấp trước ngày 31/12/2026 thì tấm ấy được tính tương đương. Ai vào vị trí sau đó mà chưa có gì thì có 12 tháng kể từ ngày chương trình bồi dưỡng có hiệu lực, và ngày ấy chưa tới.

Ngưỡng của cao đẳng cao hơn một bậc
Bậc thợ, chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia, danh hiệu nghệ nhân và cả chứng chỉ nghề của ba nước ngoài đều nằm trong danh sách. Đây là phần ít trang tuyển sinh nào nhắc tới. Hai vế vẫn phải chứng minh riêng. Tay nghề cũng là căn cứ. Danh sách dài hơn nhiều người tưởng.
| Câu hỏi | Trả lời |
|---|---|
| Không có bằng cao đẳng thì dạy thực hành được không | được, nếu có năng lực thực hành nghề theo danh sách được công nhận |
| Ngưỡng bậc thợ của trung cấp | 4 trên 7 hoặc 3 trên 6 trở lên |
| Ngưỡng bậc thợ của cao đẳng | 5 trên 7 hoặc 4 trên 6 trở lên |
| Còn phải chứng minh gì nữa | vế năng lực sư phạm, theo khoản 3 Điều 22 Luật Giáo dục nghề nghiệp số 124/2025/QH15 |

Thông tư 06/2022/TT-BLĐTBXH với chương trình 280 giờ ở Phụ lục I tới nay chưa bị thay thế, nên đó vẫn là chương trình các cơ sở dùng cho người dạy trình độ trung cấp và trình độ cao đẳng.
Mã số chức danh và bảng lương từ 14/4/2026
Điều đáng chú ý nhất của bảng mã mới là hai mã số cũ đã biến mất. Chúng thuộc về hai chức danh dành riêng cho người dạy thực hành. Hai nhánh, hai cách gọi. Trường tư cũng vận dụng được. Mã số ghi trong quyết định bổ nhiệm.
| Bậc | Trung cấp | Cao đẳng |
|---|---|---|
| Bậc thấp nhất | V.09.02.07, loại A0 hoặc A1 | V.09.02.03, loại A0 hoặc A1 |
| Bậc giữa | V.09.02.06, A2.1 từ 4,40 đến 6,78 | V.09.02.02, A2.1 từ 4,40 đến 6,78 |
| Bậc cao nhất | V.09.02.05, A3.2 từ 5,75 đến 7,55 | V.09.02.01, A3.1 từ 6,20 đến 8,00 |
| Văn bản | Điều 12 Thông tư 31/2026/TT-BGDĐT | Điều 13 Thông tư 31/2026/TT-BGDĐT |

Từ ngày 14/4/2026, Thông tư 31/2026/TT-BGDĐT gộp chức danh dạy lý thuyết với chức danh dạy thực hành làm một ở mỗi trình độ. Giáo viên trung cấp hạng III mang mã số V.09.02.07, còn chức danh giảng viên của nhánh cao đẳng mang mã số V.09.02.03. Hai mã cũ V.09.02.08 và V.09.02.04 vì thế biến mất khỏi bảng. Hệ số lương của từng chức danh lấy theo Nghị định 204/2004/NĐ-CP.
Toàn văn thông tư về mã số và xếp lương đăng tại Cổng Xây dựng chính sách, pháp luật. Một trình độ, một chức danh.
Quỹ thời gian dành cho bồi dưỡng
Phần thời gian dành cho học tập và bồi dưỡng là quỹ chính thức để hoàn thiện chuẩn nghề nghiệp. Biết mình có bao nhiêu tuần thì lập kế hoạch dễ hơn. Định mức khác nhau theo trình độ. Đọc phần quy đổi trước khi ký. Tuần bồi dưỡng là quỹ chính thức.
Thông tư 05/2026/TT-BGDĐT hiệu lực từ ngày 12/02/2026 quy định chế độ làm việc của nhà giáo giáo dục nghề nghiệp. Hai trình độ đều làm 44 tuần một năm, nhưng nhánh cao đẳng chia thành 32 tuần giảng dạy cộng 12 tuần bồi dưỡng, còn nhánh trung cấp chia thành 36 tuần giảng dạy cộng 08 tuần bồi dưỡng. Định mức là từ 350 đến 450 giờ chuẩn với cao đẳng và từ 400 đến 510 giờ chuẩn với trung cấp.
Khoản 2 Điều 5 quy đổi ba loại giờ giảng về cùng một đơn vị. Lý thuyết 45 phút, tích hợp 60 phút, thực hành 60 phút, và mỗi loại đều bằng 01 giờ chuẩn. Đưa kế hoạch vào từ đầu năm học. Cùng tổng số tuần, chia khác nhau.
Thông tư 64/2026 nói gì
Được phân công dạy một chương trình và được bổ nhiệm vào chức danh tương ứng là hai chuyện khác nhau. Ranh giới ấy nằm ở quyết định bổ nhiệm. Theo dõi văn bản mới định kỳ. Chức danh mới, mã số mới. Chưa lên Công báo nên dẫn dè dặt.
Văn bản mới nhất của mảng này là Thông tư 64/2026/TT-BGDĐT, ban hành và có hiệu lực từ ngày 10/8/2026, quy định mã số, chuẩn nghề nghiệp, bổ nhiệm, xếp lương và chế độ làm việc đối với giáo viên trung học nghề. Ba hạng của chức danh này mang mã số V.09.02.14, V.09.02.13 và V.09.02.12. Thông tư tới ngày 20/8/2026 chưa lên Công báo, nên phần dẫn ở đây chỉ gồm chi tiết mà hai nguồn báo chí độc lập cùng nêu.
Hai bản tin cùng đưa nội dung này là bài đăng ngày 16/8/2026 trên Báo Chính phủ và bài đăng ngày 15/8/2026 trên Báo Tin tức. Văn bản mới nhất của mảng này.
Vài con số để hình dung nhu cầu
Đọc số liệu cùng với quy định là cách hình dung được nhu cầu thật. Hệ thống đang cần người đứng lớp đạt chuẩn, và đó là lý do các mốc chuyển tiếp được đặt ra. Đọc số liệu cùng với quy định. Dư địa còn rất lớn. Đây là nhu cầu thật của hệ thống.
| Trình độ | Chỉ tiêu tuyển sinh 2026 |
|---|---|
| Trung cấp và cao đẳng | khoảng 450.000 người |
| Sơ cấp và đào tạo thường xuyên | khoảng 1,7 triệu người |
| Tổng cộng | khoảng 2,1 triệu người |
| Nhóm ngành công nghệ thông tin, tự động hóa, bán dẫn năm 2025 | khoảng 92.000 người |
Các con số trên lấy từ bản tin ngày 04/7/2026 về hội nghị phát triển giáo dục nghề nghiệp năm 2026, dẫn phát biểu của Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng Sở Giáo dục và Đào tạo Thành phố Hồ Chí Minh. Không có thống kê tách riêng đội ngũ nhà giáo theo từng tỉnh. Số của cả nước, không theo tỉnh.
Cà Mau giữ tên sau khi hợp nhất với Bạc Liêu
Khoản 22 Điều 1 Nghị quyết 202/2025/QH15 sắp xếp tỉnh Bạc Liêu và tỉnh Cà Mau thành một tỉnh mới, lấy tên là tỉnh Cà Mau. Không có quy định riêng cho tỉnh nào. Địa giới đổi, điều kiện không đổi.
Tỉnh sau sắp xếp rộng 7.942,39 km² với 2.606.672 người, là đơn vị cực nam của cả nước. Trường nghề trên địa bàn giữ nguyên hoạt động. Chế độ làm việc của nhà giáo do thông tư quy định chung. Nghị quyết vẽ lại bản đồ, không vẽ lại chuẩn. Hồ sơ đổi tên tỉnh thôi.

Xem thêm bài cùng chủ đề tại Bạc Liêu, Kiên Giang, Lâm Đồng. Thông tư áp chung cả nước.
Người dạy chương trình bồi dưỡng năng lực sư phạm áp định mức của cao đẳng
Một khoản nhỏ nhưng nói lên nhiều điều về cách luật nhìn khóa học này. Đọc điều khoản trước khi đóng tiền. Số hiệu văn bản là thứ cần nhất.
Khoản 6 Điều 8 Thông tư 05/2026/TT-BGDĐT quy định nhà giáo được giao nhiệm vụ giảng dạy chương trình bồi dưỡng năng lực sư phạm cho nhà giáo trong cơ sở hoạt động giáo dục nghề nghiệp thì áp dụng định mức giờ chuẩn của nhà giáo dạy trình độ cao đẳng, tức từ 350 đến 450 giờ chuẩn. Nghĩa là chương trình ấy được xếp ngang với việc dạy trình độ cao đẳng, và người đứng lớp là nhà giáo trong cơ sở hoạt động giáo dục nghề nghiệp. Người ở Cà Mau gặp một lời rao mà người dạy không thuộc nhóm này thì nên hỏi thêm. Kiểm phạm vi, kiểm trình độ. Một câu hỏi mất mười giây.
Các mảng liên quan cùng địa bàn gồm chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm tại Cà Mau, chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm sơ cấp tại Cà Mau và chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm đại học tại Cà Mau. Mỗi mảng đi theo một hệ văn bản riêng. Biết mình thiếu vế nào đã.
Với người mới tìm hiểu, thứ tự hợp lý là xác định vai của mình trước. Dạy chương trình cao đẳng thì đi theo Thông tư 25/2026/TT-BGDĐT, dạy chương trình trung cấp thì đi theo Thông tư 24/2026/TT-BGDĐT. Hai đường có hai danh sách khác nhau. Ai muốn hỏi thêm có thể để lại thông tin ở trang liên hệ.
Các thắc mắc phổ biến
Ai được dạy chương trình bồi dưỡng năng lực sư phạm cho nhà giáo?
Khoản 6 Điều 8 Thông tư 05/2026/TT-BGDĐT nói tới nhà giáo trong cơ sở hoạt động giáo dục nghề nghiệp được giao nhiệm vụ này, và cho họ áp dụng định mức giờ chuẩn của nhà giáo dạy trình độ cao đẳng.
Chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm dạy nghề còn giá trị năm 2026 không?
Có. Điểm a khoản 7 Điều 13 Thông tư 24/2026/TT-BGDĐT liệt kê chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm dạy nghề trong danh sách được công nhận đáp ứng tiêu chuẩn năng lực sư phạm dạy trình độ trung cấp. Khoản 6 Điều 9 Thông tư 25/2026/TT-BGDĐT cũng liệt kê chứng chỉ sư phạm dạy nghề cho trình độ cao đẳng.
Bài cập nhật 20/8/2026. Dẫn chiếu khoản 3 Điều 6, Điều 21, khoản 3 và khoản 6 Điều 22 Luật Giáo dục nghề nghiệp số 124/2025/QH15, khoản 7 Điều 13 Thông tư 24/2026/TT-BGDĐT và khoản 6 Điều 9 Thông tư 25/2026/TT-BGDĐT. Toàn văn luật ở Công báo Chính phủ.
