Trả lời nhanh: Ở Bình Thuận cũ, phần lớn người hỏi về chứng chỉ dạy nghề là thợ giỏi được mời dạy thỉnh giảng theo mùa. Luật xếp thỉnh giảng vào cùng nhóm với giáo viên cơ hữu, nên bộ chuẩn cũng đi qua cùng một cửa. Luật Giáo dục nghề nghiệp số 124/2025/QH15 hiệu lực từ 01/01/2026 đòi năng lực sư phạm chứ không gọi tên tấm chứng chỉ nào. Danh sách chứng chỉ được công nhận nằm ở điều khoản chuyển tiếp của hai thông tư ban hành ngày 09/4/2026. Tại Bình Thuận, điều này áp cho cả trường công lập lẫn ngoài công lập.
Chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm dạy nghề có thật trong luật
Tên gọi ngoài thị trường và tên gọi trong văn bản ở đây khá gần nhau, chỉ lệch vài chữ giữa hai thông tư. Chính vì gần mà dễ chủ quan. Đọc đúng chữ trong từng văn bản vẫn là việc phải làm. Đọc tên đầy đủ trước khi đọc giá. Tên có thật, vấn đề là phạm vi. Ba tấm giấy, ba vai trò.
Chứng chỉ được công nhận đáp ứng tiêu chuẩn về năng lực sư phạm dạy trình độ trung cấp quy định tại Thông tư này bao gồm các chứng chỉ sau trở lên: a) Chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm dạy trình độ cao đẳng, trình độ trung cấp; Chứng chỉ sư phạm dạy nghề dạy trình độ trung cấp nghề, cao đẳng nghề; Chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm dạy nghề.
Nguyên văn khoản 7 Điều 13 Thông tư 24/2026/TT-BGDĐT ngày 09/4/2026.
Ba tấm chứng chỉ dừng lại ở trung cấp
Hai thông tư ra cùng ngày 09/4/2026 mỗi bản kèm một danh sách chứng chỉ được công nhận. Đặt cạnh nhau thì thấy chúng không giống hệt. Chỗ chênh nằm đúng ở ba cái tên. Bản cao đẳng ngắn hơn ba dòng. Chỗ chênh nằm ở điểm b. Xác định trình độ trước, tra sau.
Chứng chỉ được công nhận đáp ứng tiêu chuẩn về năng lực sư phạm dạy trình độ cao đẳng quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 6, điểm d khoản 2 Điều 7 và điểm d khoản 2 Điều 8 Thông tư này bao gồm các chứng chỉ sau trở lên: Chứng chỉ sư phạm dạy nghề dạy trình độ trung cấp nghề, cao đẳng nghề; Chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm dạy trình độ cao đẳng, dạy trình độ trung cấp; Chứng chỉ sư phạm dạy nghề; Chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm dạy trình độ cao đẳng; Chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giảng viên đại học, cao đẳng; Chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giảng viên trong cơ sở giáo dục đại học.
Trích nguyên văn danh sách của trình độ cao đẳng tại Thông tư 25/2026/TT-BGDĐT.
| Câu hỏi | Trung cấp | Cao đẳng |
|---|---|---|
| Danh sách nằm ở đâu | khoản 7 Điều 13 Thông tư 24/2026/TT-BGDĐT | khoản 6 Điều 9 Thông tư 25/2026/TT-BGDĐT |
| Số tấm được liệt kê | chín | sáu |
| Có tên chứng chỉ dạy nghề không | có | có |
| Bồi dưỡng sư phạm bậc 2 | có | không |
| Ai được miễn cả danh sách | người tốt nghiệp ngành đào tạo giáo viên | |

Bộ chuẩn nghề nghiệp của hệ giáo dục nghề nghiệp nằm ở hai văn bản cùng ngày 09/4/2026. Thông tư 24/2026/TT-BGDĐT lo nhánh sơ cấp và trung cấp, Thông tư 25/2026/TT-BGDĐT lo nhánh cao đẳng. Cấu trúc hai bản giống nhau tới từng khoản, chỉ đổi tên chức danh. Chỗ chênh nằm ở ba tấm của điểm b khoản 7 Điều 13, tức chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm dạy trình độ trung cấp, chứng chỉ bồi dưỡng sư phạm bậc 2 và chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm giáo viên trung cấp chuyên nghiệp.
Hai tầng văn bản của cùng một yêu cầu
Cách viết của luật cũng để ngỏ khả năng có thêm cách chứng minh khác trong tương lai. Việc đánh giá và công nhận năng lực sư phạm được giao lại cho Bộ trưởng, và đó là phần chưa có văn bản riêng. Giấy là cách chứng minh thôi. Gắn với một trình độ cụ thể. Miễn cho người học ngành sư phạm.
Giảng viên, giáo viên quy định tại khoản 1 Điều này nếu không tốt nghiệp ngành đào tạo giáo viên thì phải có năng lực sư phạm phù hợp với trình độ giảng dạy.
Trích nguyên văn mệnh đề miễn trừ tại Luật Giáo dục nghề nghiệp số 124/2025/QH15.
Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định bằng cử nhân hoặc văn bằng trình độ tương đương trở lên một số ngành đào tạo của giáo dục đại học được dạy thực hành; năng lực sư phạm và năng lực thực hành nghề của giảng viên, giáo viên; chương trình bồi dưỡng năng lực sư phạm và khung chương trình bồi dưỡng năng lực thực hành nghề; việc đánh giá, công nhận năng lực sư phạm, năng lực thực hành nghề; tiêu chuẩn cơ sở thực hiện bồi dưỡng và đánh giá.
Khoản 6 Điều 22 Luật Giáo dục nghề nghiệp số 124/2025/QH15, phần giao việc cho Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Điều 22 Luật Giáo dục nghề nghiệp số 124/2025/QH15 là điều gốc của toàn bộ chủ đề này. Luật có hiệu lực từ ngày 01/01/2026, và khoản 6 giao Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định chương trình bồi dưỡng năng lực sư phạm, cách đánh giá công nhận năng lực đó, cùng tiêu chuẩn của cơ sở được làm việc bồi dưỡng và đánh giá. Đây là phần còn để trống tính tới ngày 20/8/2026. Còn quyền và nghĩa vụ của giảng viên, giáo viên cơ hữu thì khoản 1 Điều 23 giao cho Luật Nhà giáo.
Bốn chức danh và bốn hình thức làm việc
Cách phân vai mới bám vào chương trình chứ không bám vào loại trường. Một người làm việc trong trường cao đẳng vẫn có thể thuộc vai giáo viên trung cấp nếu chương trình được phân công là chương trình trung cấp. Bốn vai, chia theo chương trình. Hỏi mình dạy chương trình gì. Định vị mình trước đã.
Giảng viên, giáo viên quy định tại khoản 1 Điều này bao gồm: giảng viên và giáo viên cơ hữu, giảng viên đồng cơ hữu, giảng viên và giáo viên hợp đồng toàn thời gian sau khi nghỉ hưu, giảng viên và giáo viên thỉnh giảng.
Điều 21 của Luật Giáo dục nghề nghiệp số 124/2025/QH15, đứng liền trước điều về trình độ chuẩn.
Khoản 1 Điều 21 đứng trước đó gọi tên bốn vai theo chương trình được phân công giảng dạy, gồm giảng viên cao đẳng, giáo viên trung học nghề, giáo viên trung cấp và giáo viên sơ cấp. Điều 21 vì thế là điều phải đọc trước. Trường nào không quyết định vai nào. Trung học nghề là tên mới.

Vai thứ năm nằm ngoài bốn chức danh
Quyền và nghĩa vụ của nhóm này không đi qua Luật Nhà giáo. Chúng do cơ sở, doanh nghiệp và hợp tác xã quy định, và đó là khác biệt lớn nhất so với bốn chức danh còn lại. Hai cụm từ, hai thứ khác nhau. Chế độ do cơ sở quy định. Trong trường hay trong doanh nghiệp.
Người dạy nghề là nhân sự khác theo quy định của Luật Giáo dục thực hiện nhiệm vụ giảng dạy, hướng dẫn thực hành tại doanh nghiệp, hợp tác xã để thực hiện các chương trình giáo dục nghề nghiệp.
Nguyên văn khoản 4 Điều 21 Luật Giáo dục nghề nghiệp số 124/2025/QH15.
Đọc thêm khoản 3 Điều 6 thì ranh giới rõ hơn. Danh sách văn bằng, chứng chỉ mà cơ sở hoạt động giáo dục nghề nghiệp được cấp gồm năm loại, và cả năm đều dành cho người học nghề. Tấm chứng chỉ sư phạm không có tên trong đó, vì nó là giấy chứng nhận hoàn thành một chương trình bồi dưỡng cho người đứng lớp. Nơi làm việc là chỗ phân biệt. Vai này nằm ngoài bốn chức danh.
Phần còn thiếu của bộ hồ sơ
Bộ chuẩn nghề nghiệp mới đòi hai thứ khác nhau ở mục trình độ đào tạo và bồi dưỡng. Nhiều người dừng lại ở thứ đầu tiên và tưởng đã xong. Chương trình thứ hai chưa có. Tên hai tấm giấy khác nhau. Hai vế, không phải một.
Giáo viên trung cấp hạng III, hạng II và hạng I phải có năng lực sư phạm dạy trình độ trung cấp (đối với giáo viên không tốt nghiệp ngành đào tạo giáo viên); có chứng chỉ bồi dưỡng chuẩn nghề nghiệp giáo viên trung cấp. Việc đánh giá, công nhận năng lực sư phạm thực hiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Tiêu chuẩn về bồi dưỡng của giáo viên trung cấp tại Thông tư 24/2026/TT-BGDĐT.
Bên nhánh cao đẳng, tên tấm giấy thứ hai là chứng chỉ bồi dưỡng chuẩn nghề nghiệp giảng viên cao đẳng, quy định tại điểm e khoản 2 Điều 6 Thông tư 25/2026/TT-BGDĐT. Điểm đ liền trước là vế năng lực sư phạm. Hai vế này lặp lại ở cả ba bậc. Đọc hết khoản rồi hãy kết luận. Một nửa yêu cầu vẫn là một nửa.
Ba khoản của cùng một điều
Ngày hiệu lực chia người trong nghề thành hai nhóm. Nhóm vào vị trí việc làm trước ngày đó được miễn vế chứng chỉ mới, nhóm vào sau thì không. Giữ lại quyết định tuyển dụng. Đồng hồ thứ ba chưa chạy. Ba mốc, ba nhóm người.
Trường hợp chưa có chứng chỉ bồi dưỡng quy định tại khoản 1 Điều này thì phải hoàn thiện đáp ứng yêu cầu về chứng chỉ bồi dưỡng chuẩn nghề nghiệp giáo viên sơ cấp hoặc giáo viên trung cấp trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày chương trình bồi dưỡng chuẩn nghề nghiệp giáo viên sơ cấp, giáo viên trung cấp có hiệu lực thi hành.
Trích nguyên văn cách tính thời hạn tại Thông tư 24/2026/TT-BGDĐT.
Ba mốc nên ghi lại. Ngày 09/4/2026 là ngày hai thông tư có hiệu lực, và người vào vị trí việc làm trước ngày đó không bị yêu cầu chứng chỉ bồi dưỡng chuẩn nghề nghiệp. Ngày 31/12/2026 là hạn để chứng chỉ bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp cũ được xác định tương đương. Thời hạn 12 tháng thì tính từ ngày chương trình bồi dưỡng chuẩn nghề nghiệp có hiệu lực, và chương trình đó chưa được ban hành.

Danh sách giấy tờ được công nhận
Danh sách nằm ở điều khoản chuyển tiếp, nghĩa là nó xử lý những giấy tờ đã có. Việc đánh giá và công nhận năng lực thực hành nghề nói chung thì chờ quy định riêng của Bộ trưởng. Cao đẳng cao hơn một bậc. Danh sách dài hơn nhiều người tưởng. Kiểm lại giấy tờ mình đang giữ.
| Vế trong hồ sơ | Chứng minh bằng gì | Ai được miễn |
|---|---|---|
| Văn bằng dạy lý thuyết | bằng cử nhân hoặc văn bằng trình độ tương đương trở lên | không ai |
| Văn bằng dạy thực hành | bằng cao đẳng trở lên, văn bằng đại học thuộc danh mục, hoặc năng lực thực hành nghề | không ai |
| Năng lực sư phạm | chứng chỉ trong danh sách được công nhận | người tốt nghiệp ngành đào tạo giáo viên |
| Chuẩn nghề nghiệp | chứng chỉ bồi dưỡng chuẩn nghề nghiệp | người vào vị trí việc làm trước ngày 09/4/2026 |

Về phần chương trình học, con số 280 giờ của Phụ lục I Thông tư 06/2022/TT-BLĐTBXH vẫn là thứ đang được dạy cho nhánh cao đẳng và trung cấp, vì chưa có văn bản nào thay nó tính tới ngày 20/8/2026.
Hai mã số cũ đã rời khỏi bảng
Từ giữa tháng 4 năm 2026, mỗi chức danh trong hệ giáo dục nghề nghiệp có một bộ mã số riêng. Mã số ghi trong quyết định bổ nhiệm nên rất dễ đối chiếu. Mã số nối chuẩn với lương. Hai mã cũ đã rời bảng. Một trình độ, một chức danh.
| Hạng mục | Nội dung |
|---|---|
| Mã số giáo viên trung cấp hạng III | V.09.02.07 |
| Mã số giảng viên cao đẳng bậc đầu | V.09.02.03 |
| Hai mã số đã rời bảng | V.09.02.08 và V.09.02.04 |
| Cơ sở tư thục | được vận dụng theo khoản 1 Điều 16 |
| Bảng lương áp dụng | Nghị định 204/2004/NĐ-CP |

Bốn mã số nên nhớ. Thông tư 31/2026/TT-BGDĐT hiệu lực từ ngày 14/4/2026 đặt mã số V.09.02.07 cho giáo viên trung cấp hạng III và mã số V.09.02.03 cho chức danh giảng viên ở nhánh cao đẳng. Hai mã số cũ là V.09.02.08 và V.09.02.04 của hai chức danh dạy thực hành không còn trong bảng mã. Bảng lương áp dụng là bảng của Nghị định 204/2004/NĐ-CP.
Toàn văn thông tư về mã số và xếp lương đăng tại Cổng Xây dựng chính sách, pháp luật. Mã số ghi trong quyết định bổ nhiệm.
Chế độ làm việc của nhà giáo giáo dục nghề nghiệp
Thông tư này cũng nhắc tới việc giảng dạy chương trình bồi dưỡng năng lực sư phạm, và xếp nó ngang với việc dạy trình độ cao đẳng. Định mức khác nhau theo trình độ. Đọc phần quy đổi trước khi ký. Tuần bồi dưỡng là quỹ chính thức.
Chế độ làm việc nằm ở Thông tư 05/2026/TT-BGDĐT, hiệu lực từ ngày 12/02/2026. Cả nhánh cao đẳng lẫn nhánh trung cấp đều 44 tuần một năm học. Phần dành cho học tập và bồi dưỡng là 12 tuần với cao đẳng và 08 tuần với trung cấp. Định mức giờ chuẩn tương ứng là từ 350 đến 450 và từ 400 đến 510.
Cách quy đổi nằm ở khoản 2 Điều 5. Một giờ lý thuyết dài 45 phút, một giờ tích hợp và một giờ thực hành dài 60 phút, cả ba đều được tính bằng 01 giờ chuẩn. Đưa kế hoạch vào từ đầu năm học. Cùng tổng số tuần, chia khác nhau.
Chức danh giáo viên trung học nghề
Với người chuẩn bị hồ sơ, điều rút ra là nên hỏi rõ mình sẽ được bổ nhiệm vào chức danh nào trước khi đăng ký một khóa học nào đó. Chưa lên Công báo nên dẫn dè dặt. Ban hành ngày 10/8/2026. Phân công khác với bổ nhiệm.
Văn bản mới nhất của mảng này là Thông tư 64/2026/TT-BGDĐT, ban hành và có hiệu lực từ ngày 10/8/2026, quy định mã số, chuẩn nghề nghiệp, bổ nhiệm, xếp lương và chế độ làm việc đối với giáo viên trung học nghề. Ba hạng của chức danh này mang mã số V.09.02.14, V.09.02.13 và V.09.02.12. Thông tư tới ngày 20/8/2026 chưa lên Công báo, nên phần dẫn ở đây chỉ gồm chi tiết mà hai nguồn báo chí độc lập cùng nêu.
Hai bản tin cùng đưa nội dung này là bài đăng ngày 16/8/2026 trên Báo Chính phủ và bài đăng ngày 15/8/2026 trên Báo Tin tức. Theo dõi văn bản mới định kỳ.
Vài con số để hình dung nhu cầu
Mức độ gắn kết giữa cơ sở đào tạo với doanh nghiệp cũng là con số đáng chú ý, vì nó liên quan trực tiếp tới vai người dạy nghề trong luật. Số của cả nước, không theo tỉnh. Đọc số liệu cùng với quy định. Con số nói rõ hơn lời rao.
| Chỉ số | Giá trị | Ghi chú |
|---|---|---|
| Số trường công lập | 373 | gồm cao đẳng và trung cấp |
| Người tốt nghiệp năm 2025 | khoảng 1,8 triệu | toàn hệ |
| Lao động đã qua đào tạo | gần 30% | số liệu năm 2025 |
| Tuyển sinh nhóm ngành công nghệ | khoảng 92.000 người | công nghệ thông tin, tự động hóa, bán dẫn, năm 2025 |
Các con số trên lấy từ bản tin ngày 04/7/2026 về hội nghị phát triển giáo dục nghề nghiệp năm 2026, dẫn phát biểu của Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng Sở Giáo dục và Đào tạo Thành phố Hồ Chí Minh. Không có thống kê tách riêng đội ngũ nhà giáo theo từng tỉnh. Dư địa còn rất lớn.
Bình Thuận nay thuộc tỉnh Lâm Đồng
Theo khoản 14 Điều 1 Nghị quyết 202/2025/QH15, toàn bộ diện tích tự nhiên và quy mô dân số tỉnh Bình Thuận được sắp xếp cùng tỉnh Đắk Nông và tỉnh Lâm Đồng. Thông tư áp chung cả nước. Đầu mối quản lý gộp lại.
Tỉnh mới có 24.233,07 km² và 3.872.999 người. Trường nghề ven biển trên địa bàn Bình Thuận cũ nay ghi địa chỉ theo tỉnh Lâm Đồng. Điều kiện với người giảng dạy giữ nguyên vì đó là quy định chung của cả nước. Không có quy định riêng cho tỉnh nào. Địa giới đổi, điều kiện không đổi.

Xem thêm bài cùng chủ đề tại Lâm Đồng, Ninh Thuận, Cần Thơ. Nghị quyết vẽ lại bản đồ, không vẽ lại chuẩn.
Thỉnh giảng nằm trong cùng một khoản với giáo viên cơ hữu
Bốn hình thức, và luật không tách riêng bộ chuẩn cho hình thức nào. Kiểm phạm vi, kiểm trình độ. Đọc điều khoản trước khi đóng tiền.
Khoản 2 Điều 21 Luật Giáo dục nghề nghiệp số 124/2025/QH15 liệt kê bốn hình thức, gồm giảng viên và giáo viên cơ hữu, giảng viên đồng cơ hữu, giảng viên và giáo viên hợp đồng toàn thời gian sau khi nghỉ hưu, giảng viên và giáo viên thỉnh giảng. Cả bốn đều là giảng viên, giáo viên quy định tại khoản 1, nên đều chịu bộ trình độ chuẩn của Điều 22. Người ở Bình Thuận cũ đi dạy thỉnh giảng vài buổi trong một khóa vẫn cần đủ điều kiện như người dạy toàn thời gian. Chỗ khác nhau nằm ở quyền và nghĩa vụ, theo khoản 3 Điều 23. Số hiệu văn bản là thứ cần nhất. Biết mình thiếu vế nào đã.
Các mảng liên quan cùng địa bàn gồm chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm tại Bình Thuận, chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm sơ cấp tại Bình Thuận và chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm đại học tại Bình Thuận. Mỗi mảng đi theo một hệ văn bản riêng. Đi từ cơ sở đào tạo, đừng đi từ quảng cáo.
Với người mới tìm hiểu, thứ tự hợp lý là xác định vai của mình trước. Dạy chương trình cao đẳng thì đi theo Thông tư 25/2026/TT-BGDĐT, dạy chương trình trung cấp thì đi theo Thông tư 24/2026/TT-BGDĐT. Hai đường có hai danh sách khác nhau. Ai muốn hỏi thêm có thể để lại thông tin ở trang liên hệ.
Hỏi và đáp về điều kiện giảng dạy
Dạy thỉnh giảng ở trường nghề có cần đủ điều kiện như giáo viên cơ hữu không?
Khoản 2 Điều 21 Luật Giáo dục nghề nghiệp số 124/2025/QH15 xếp giáo viên thỉnh giảng vào cùng nhóm giảng viên, giáo viên tại khoản 1, nên trình độ chuẩn tại Điều 22 áp dụng cho cả hình thức thỉnh giảng.
Người dạy nghề trong doanh nghiệp có phải học chứng chỉ này không?
Khoản 4 Điều 21 Luật Giáo dục nghề nghiệp số 124/2025/QH15 xếp người dạy nghề vào nhóm nhân sự khác, không phải một trong bốn chức danh nhà giáo. Khoản 5 Điều 22 giao Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định tiêu chuẩn riêng cho vai này.
Bài viết cập nhật ngày 20/8/2026, căn cứ Điều 6, Điều 21, Điều 22 và Điều 23 Luật Giáo dục nghề nghiệp số 124/2025/QH15 cùng bốn thông tư năm 2026. Bản gốc đọc ở Công báo Chính phủ.
