Trả lời nhanh: Trường cao đẳng trên địa bàn Phú Yên cũ đang xếp lại đội ngũ theo chuẩn nghề nghiệp mới. Với nhánh cao đẳng, bộ chuẩn cũng đòi hai thứ, và tên tấm giấy thứ hai khác với nhánh trung cấp. Tấm giấy này chứng minh một vế trong bộ hồ sơ, là năng lực sư phạm theo khoản 3 Điều 22 Luật Giáo dục nghề nghiệp số 124/2025/QH15. Các vế còn lại gồm văn bằng và chứng chỉ bồi dưỡng chuẩn nghề nghiệp, và chương trình của tấm thứ hai chưa ban hành. Với Phú Yên, không có quy định riêng nào khác với các địa phương còn lại.
Chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm dạy nghề có thật trong luật
Trước khi bàn tới chương trình học, nên tách hai câu hỏi. Tấm giấy này có căn cứ hay không, và nó mở cửa vào đâu. Câu thứ nhất có câu trả lời rõ. Câu thứ hai mới là chỗ phần lớn người học hiểu thiếu. Ba tấm giấy, ba vai trò. Hỏi điểm nào, khoản nào, điều nào. Một dòng trong danh sách, không hơn.
Chứng chỉ được công nhận đáp ứng tiêu chuẩn về năng lực sư phạm dạy trình độ trung cấp quy định tại Thông tư này bao gồm các chứng chỉ sau trở lên: a) Chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm dạy trình độ cao đẳng, trình độ trung cấp; Chứng chỉ sư phạm dạy nghề dạy trình độ trung cấp nghề, cao đẳng nghề; Chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm dạy nghề; Chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm dạy trình độ cao đẳng; Chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giảng viên đại học, cao đẳng; Chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giảng viên trong cơ sở giáo dục đại học; b) Chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm dạy trình độ trung cấp; Chứng chỉ bồi dưỡng sư phạm bậc 2; Chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm giáo viên trung cấp chuyên nghiệp.
Nguyên văn khoản 7 Điều 13 Thông tư 24/2026/TT-BGDĐT ngày 09/4/2026.
Điểm a và điểm b của cùng một khoản
Một tấm chứng chỉ có thể đủ điều kiện cho trình độ này mà chưa đủ cho trình độ kia. Đó là kết quả trực tiếp của việc hai thông tư liệt kê hai danh sách khác nhau. Hai danh sách, không phải một. Danh sách đóng, không phải gợi ý. Trung cấp không tự động sang cao đẳng.
Chứng chỉ được công nhận đáp ứng tiêu chuẩn về năng lực sư phạm dạy trình độ cao đẳng quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 6, điểm d khoản 2 Điều 7 và điểm d khoản 2 Điều 8 Thông tư này bao gồm các chứng chỉ sau trở lên: Chứng chỉ sư phạm dạy nghề dạy trình độ trung cấp nghề, cao đẳng nghề; Chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm dạy trình độ cao đẳng, dạy trình độ trung cấp; Chứng chỉ sư phạm dạy nghề; Chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm dạy trình độ cao đẳng; Chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giảng viên đại học, cao đẳng; Chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giảng viên trong cơ sở giáo dục đại học.
Trích nguyên văn danh sách của trình độ cao đẳng tại Thông tư 25/2026/TT-BGDĐT.
| Tên chứng chỉ | Dạy trình độ trung cấp | Dạy trình độ cao đẳng |
|---|---|---|
| Chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm dạy trình độ cao đẳng, trình độ trung cấp | được công nhận | được công nhận |
| Chứng chỉ sư phạm dạy nghề dạy trình độ trung cấp nghề, cao đẳng nghề | được công nhận | được công nhận |
| Chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm dạy nghề | được công nhận | được công nhận, văn bản ghi là chứng chỉ sư phạm dạy nghề |
| Chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm dạy trình độ trung cấp | được công nhận | không có tên trong danh sách |
| Chứng chỉ bồi dưỡng sư phạm bậc 2 | được công nhận | không có tên trong danh sách |
| Chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm giáo viên trung cấp chuyên nghiệp | được công nhận | không có tên trong danh sách |

Hai văn bản cần đọc song song. Thông tư 24/2026/TT-BGDĐT quy định chuẩn nghề nghiệp giáo viên sơ cấp và giáo viên trung cấp, còn Thông tư 25/2026/TT-BGDĐT quy định chuẩn nghề nghiệp giảng viên cao đẳng. Cả hai cùng ban hành ngày 09/4/2026 và cùng có hiệu lực từ chính ngày đó. Ba tấm ở điểm b khoản 7 Điều 13 gồm chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm dạy trình độ trung cấp, chứng chỉ bồi dưỡng sư phạm bậc 2 và chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm giáo viên trung cấp chuyên nghiệp thì vắng mặt trong danh sách của cao đẳng.
Khoản 3 Điều 22 và mệnh đề trong ngoặc
Khi luật đòi một năng lực thay vì một tờ giấy, cửa vào sẽ rộng hơn. Người tốt nghiệp ngành đào tạo giáo viên được miễn hẳn, còn người khác thì chứng minh bằng một trong các cách mà thông tư liệt kê. Miễn cho người học ngành sư phạm. Giấy là cách chứng minh thôi. Gắn với một trình độ cụ thể.
Giảng viên, giáo viên quy định tại khoản 1 Điều này nếu không tốt nghiệp ngành đào tạo giáo viên thì phải có năng lực sư phạm phù hợp với trình độ giảng dạy.
Trích Luật Giáo dục nghề nghiệp số 124/2025/QH15, điều về trình độ chuẩn được đào tạo.
Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định bằng cử nhân hoặc văn bằng trình độ tương đương trở lên một số ngành đào tạo của giáo dục đại học được dạy thực hành; năng lực sư phạm và năng lực thực hành nghề của giảng viên, giáo viên; chương trình bồi dưỡng năng lực sư phạm và khung chương trình bồi dưỡng năng lực thực hành nghề; việc đánh giá, công nhận năng lực sư phạm, năng lực thực hành nghề; tiêu chuẩn cơ sở thực hiện bồi dưỡng và đánh giá.
Khoản 6 Điều 22 Luật Giáo dục nghề nghiệp số 124/2025/QH15, phần giao việc cho Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Quyển luật gốc của mảng này là Luật Giáo dục nghề nghiệp số 124/2025/QH15, Quốc hội thông qua ngày 10 tháng 12 năm 2025 và có hiệu lực từ ngày 01/01/2026. Khoản 6 Điều 22 giao Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định chương trình bồi dưỡng năng lực sư phạm, việc đánh giá và công nhận năng lực ấy, cùng tiêu chuẩn cơ sở thực hiện bồi dưỡng và đánh giá. Tới ngày 20/8/2026 chưa tra được văn bản nào ban hành ba nhóm nội dung đó. Quyền và nghĩa vụ của giảng viên, giáo viên cơ hữu thì theo Luật Nhà giáo, quy định tại khoản 1 Điều 23.
Xác định mình đứng ở vai nào
Danh sách bốn vai có một cái tên hoàn toàn mới so với hệ văn bản cũ. Giáo viên trung học nghề gắn với trình độ giáo dục trung học nghề mà quyển luật này lập ra. Trung học nghề là tên mới. Mỗi vai một bộ chuẩn. Bốn vai, chia theo chương trình.
Giảng viên cao đẳng là người giảng dạy chương trình cao đẳng; giáo viên trung học nghề là người giảng dạy chương trình giáo dục trung học nghề; giáo viên trung cấp là người giảng dạy chương trình trung cấp; giáo viên sơ cấp là người giảng dạy chương trình sơ cấp.
Cách phân vai theo chương trình tại Luật Giáo dục nghề nghiệp số 124/2025/QH15.
Sau khi chia vai, khoản 2 Điều 21 chia tiếp theo cách làm việc. Bốn hình thức là cơ hữu, đồng cơ hữu, hợp đồng toàn thời gian sau khi nghỉ hưu và thỉnh giảng, và không hình thức nào được miễn Điều 22. Hỏi mình dạy chương trình gì. Định vị mình trước đã.

Hai cụm từ gần giống nhau tới mức dễ nhầm
Chữ dạy nghề trong tên tấm giấy và chữ người dạy nghề trong luật chỉ hai thứ khác nhau. Một bên là tên gọi quen thuộc của một chương trình bồi dưỡng, một bên là một vai làm việc trong doanh nghiệp. Vai này nằm ngoài bốn chức danh. Nơi làm việc là chỗ phân biệt. Chế độ do cơ sở quy định.
Người dạy nghề là nhân sự khác theo quy định của Luật Giáo dục thực hiện nhiệm vụ giảng dạy, hướng dẫn thực hành tại doanh nghiệp, hợp tác xã để thực hiện các chương trình giáo dục nghề nghiệp.
Định nghĩa người dạy nghề tại Luật Giáo dục nghề nghiệp số 124/2025/QH15.
Khoản 3 Điều 6 khép lại mạch này. Nó liệt kê năm loại giấy mà cơ sở hoạt động giáo dục nghề nghiệp cấp cho người học, và danh sách ấy đóng. Tấm chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm nằm ngoài, vì đối tượng của nó là người đi dạy. Trong trường hay trong doanh nghiệp. Đọc khoản 4 trước khi tìm lớp.
Chuẩn nghề nghiệp đòi hai tấm giấy
Điểm quan trọng là tấm giấy thứ hai mang tên khác hẳn tấm thứ nhất, và nó gắn với chức danh chứ không gắn với trình độ giảng dạy. Đọc hết khoản rồi hãy kết luận. Một nửa yêu cầu vẫn là một nửa. Vế sau không có ngoại lệ.
Giáo viên trung cấp hạng III, hạng II và hạng I phải có năng lực sư phạm dạy trình độ trung cấp (đối với giáo viên không tốt nghiệp ngành đào tạo giáo viên); có chứng chỉ bồi dưỡng chuẩn nghề nghiệp giáo viên trung cấp. Việc đánh giá, công nhận năng lực sư phạm thực hiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Trích Thông tư 24/2026/TT-BGDĐT, phần đòi hai thứ khác nhau trong cùng một khoản.
Bên nhánh cao đẳng, tên tấm giấy thứ hai là chứng chỉ bồi dưỡng chuẩn nghề nghiệp giảng viên cao đẳng, quy định tại điểm e khoản 2 Điều 6 Thông tư 25/2026/TT-BGDĐT. Điểm đ liền trước là vế năng lực sư phạm. Hai vế này lặp lại ở cả ba bậc. Hai vế, không phải một. Chương trình thứ hai chưa có.
Ba mốc thời gian và ba nhóm người
Người trong nghề nên tự xếp mình vào một trong ba nhóm rồi đọc đúng khoản tương ứng. Việc này mất vài phút và giúp tránh một khoản chi không cần thiết. Hai thông tư dùng chung bộ mốc. Xếp mình vào nhóm nào trước. Ngày cấp ghi trên giấy rất quan trọng.
Trường hợp chưa có chứng chỉ bồi dưỡng quy định tại khoản 1 Điều này thì phải hoàn thiện đáp ứng yêu cầu về chứng chỉ bồi dưỡng chuẩn nghề nghiệp giáo viên sơ cấp hoặc giáo viên trung cấp trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày chương trình bồi dưỡng chuẩn nghề nghiệp giáo viên sơ cấp, giáo viên trung cấp có hiệu lực thi hành.
Trích Thông tư 24/2026/TT-BGDĐT, phần tính thời hạn từ ngày chương trình bồi dưỡng có hiệu lực.
Ba mốc nên ghi lại. Ngày 09/4/2026 là ngày hai thông tư có hiệu lực, và người vào vị trí việc làm trước ngày đó không bị yêu cầu chứng chỉ bồi dưỡng chuẩn nghề nghiệp. Ngày 31/12/2026 là hạn để chứng chỉ bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp cũ được xác định tương đương. Thời hạn 12 tháng thì tính từ ngày chương trình bồi dưỡng chuẩn nghề nghiệp có hiệu lực, và chương trình đó chưa được ban hành.

Cửa vào không đi qua tấm chứng chỉ nào
Điều đáng chú ý là ngưỡng của trình độ cao đẳng cao hơn trung cấp đúng một bậc ở cả hai loại giấy. Chi tiết ấy quyết định một người dạy được tới đâu. Cao đẳng cao hơn một bậc. Danh sách dài hơn nhiều người tưởng. Kiểm lại giấy tờ mình đang giữ.
| Câu hỏi | Trả lời |
|---|---|
| Không có bằng cao đẳng thì dạy thực hành được không | được, nếu có năng lực thực hành nghề theo danh sách được công nhận |
| Ngưỡng bậc thợ của trung cấp | 4 trên 7 hoặc 3 trên 6 trở lên |
| Ngưỡng bậc thợ của cao đẳng | 5 trên 7 hoặc 4 trên 6 trở lên |
| Còn phải chứng minh gì nữa | vế năng lực sư phạm, theo khoản 3 Điều 22 Luật Giáo dục nghề nghiệp số 124/2025/QH15 |

Chương trình các cơ sở đang giảng dạy vẫn là chương trình 280 giờ của Phụ lục I Thông tư 06/2022/TT-BLĐTBXH, dành cho người dạy trình độ cao đẳng và trình độ trung cấp. Văn bản này tới ngày 20/8/2026 chưa bị thay thế.
Mã số chức danh và bảng lương từ 14/4/2026
Bảng lương gắn với mã số, và mã số gắn với chuẩn nghề nghiệp. Ba thứ này nối nhau bằng một nguyên tắc rất ngắn nằm ở đầu thông tư về xếp lương. Trường tư cũng vận dụng được. Một trình độ, một chức danh. Mã số nối chuẩn với lương.
| Hạng mục | Nội dung |
|---|---|
| Mã số giáo viên trung cấp hạng III | V.09.02.07 |
| Mã số giảng viên cao đẳng bậc đầu | V.09.02.03 |
| Hai mã số đã rời bảng | V.09.02.08 và V.09.02.04 |
| Cơ sở tư thục | được vận dụng theo khoản 1 Điều 16 |
| Bảng lương áp dụng | Nghị định 204/2004/NĐ-CP |

Từ ngày 14/4/2026, Thông tư 31/2026/TT-BGDĐT gộp chức danh dạy lý thuyết với chức danh dạy thực hành làm một ở mỗi trình độ. Giáo viên trung cấp hạng III mang mã số V.09.02.07, còn chức danh giảng viên của nhánh cao đẳng mang mã số V.09.02.03. Hai mã cũ V.09.02.08 và V.09.02.04 vì thế biến mất khỏi bảng. Hệ số lương của từng chức danh lấy theo Nghị định 204/2004/NĐ-CP.
Toàn văn thông tư về mã số và xếp lương đăng tại Cổng Xây dựng chính sách, pháp luật. Hai nhánh, hai cách gọi.
44 tuần chia thế nào ở hai trình độ
Chế độ làm việc của nhà giáo giáo dục nghề nghiệp được quy định từ tháng 02 năm 2026, và nó chia rõ phần giảng dạy với phần bồi dưỡng. Giờ chuẩn không bằng giờ đồng hồ. Cùng tổng số tuần, chia khác nhau. Định mức khác nhau theo trình độ.
Chế độ làm việc nằm ở Thông tư 05/2026/TT-BGDĐT, hiệu lực từ ngày 12/02/2026. Cả nhánh cao đẳng lẫn nhánh trung cấp đều 44 tuần một năm học. Phần dành cho học tập và bồi dưỡng là 12 tuần với cao đẳng và 08 tuần với trung cấp. Định mức giờ chuẩn tương ứng là từ 350 đến 450 và từ 400 đến 510.
Khoản 2 Điều 5 của thông tư đó quy định một giờ giảng lý thuyết là 45 phút và được tính bằng 01 giờ chuẩn, còn một giờ dạy tích hợp và một giờ dạy thực hành đều là 60 phút và cũng tính bằng 01 giờ chuẩn. Đọc phần quy đổi trước khi ký. Đưa kế hoạch vào từ đầu năm học.
Phân công dạy khác với bổ nhiệm chức danh
Trình độ giáo dục trung học nghề do quyển luật năm 2025 lập ra, và tới tháng 8 năm 2026 mới có bộ chức danh riêng đi kèm. Phân công khác với bổ nhiệm. Văn bản mới nhất của mảng này. Chức danh mới, mã số mới.
Văn bản mới nhất của mảng này là Thông tư 64/2026/TT-BGDĐT, ban hành và có hiệu lực từ ngày 10/8/2026, quy định mã số, chuẩn nghề nghiệp, bổ nhiệm, xếp lương và chế độ làm việc đối với giáo viên trung học nghề. Ba hạng của chức danh này mang mã số V.09.02.14, V.09.02.13 và V.09.02.12. Thông tư tới ngày 20/8/2026 chưa lên Công báo, nên phần dẫn ở đây chỉ gồm chi tiết mà hai nguồn báo chí độc lập cùng nêu.
Hai bản tin cùng đưa nội dung này là bài đăng ngày 16/8/2026 trên Báo Chính phủ và bài đăng ngày 15/8/2026 trên Báo Tin tức. Chưa lên Công báo nên dẫn dè dặt.
Quy mô hệ giáo dục nghề nghiệp năm 2026
Quy mô của hệ giáo dục nghề nghiệp giải thích vì sao nhu cầu chuẩn hóa đội ngũ lại lớn tới vậy. Vài con số công bố giữa năm 2026 cho thấy điều đó. Đọc số liệu cùng với quy định. Dư địa còn rất lớn. Đây là nhu cầu thật của hệ thống.
| Trình độ | Chỉ tiêu tuyển sinh 2026 |
|---|---|
| Trung cấp và cao đẳng | khoảng 450.000 người |
| Sơ cấp và đào tạo thường xuyên | khoảng 1,7 triệu người |
| Tổng cộng | khoảng 2,1 triệu người |
| Nhóm ngành công nghệ thông tin, tự động hóa, bán dẫn năm 2025 | khoảng 92.000 người |
Các con số trên lấy từ bản tin ngày 04/7/2026 về hội nghị phát triển giáo dục nghề nghiệp năm 2026, dẫn phát biểu của Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng Sở Giáo dục và Đào tạo Thành phố Hồ Chí Minh. Không có thống kê tách riêng đội ngũ nhà giáo theo từng tỉnh. Số của cả nước, không theo tỉnh.
Phú Yên nay là một phần của tỉnh Đắk Lắk
Theo khoản 15 Điều 1 Nghị quyết 202/2025/QH15, toàn bộ diện tích tự nhiên và quy mô dân số tỉnh Phú Yên được sắp xếp cùng tỉnh Đắk Lắk, tỉnh mới lấy tên Đắk Lắk. Nghị quyết vẽ lại bản đồ, không vẽ lại chuẩn. Hồ sơ đổi tên tỉnh thôi.
Tỉnh mới rộng 18.096,40 km² với 3.346.853 người. Cơ sở đào tạo nghề trên địa bàn Phú Yên cũ ghi địa chỉ theo đơn vị mới. Chuẩn nghề nghiệp của người giảng dạy thì do thông tư của Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định thống nhất. Thông tư áp chung cả nước. Đầu mối quản lý gộp lại.

Xem thêm bài cùng chủ đề tại Đắk Lắk, Khánh Hòa, Vĩnh Long. Không có quy định riêng cho tỉnh nào.
Nhánh cao đẳng có tấm giấy thứ hai mang tên khác
Hai điểm liền nhau trong cùng một khoản, hai yêu cầu riêng. Một câu hỏi mất mười giây. Đi từ cơ sở đào tạo, đừng đi từ quảng cáo.
Điểm đ khoản 2 Điều 6 Thông tư 25/2026/TT-BGDĐT đòi năng lực sư phạm dạy trình độ cao đẳng với giảng viên không tốt nghiệp ngành đào tạo giáo viên. Điểm e ngay sau đó đòi chứng chỉ bồi dưỡng chuẩn nghề nghiệp giảng viên cao đẳng. Hai điểm này lặp lại nguyên vẹn ở Điều 7 dành cho giảng viên chính và Điều 8 dành cho giảng viên cao cấp. Người ở Phú Yên cũ làm việc trong trường cao đẳng nên tra đúng tên tấm giấy thứ hai, vì nó khác hẳn tấm dành cho giáo viên trung cấp. Biết mình thiếu vế nào đã. Số hiệu văn bản là thứ cần nhất.
Các mảng liên quan cùng địa bàn gồm chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm tại Phú Yên, chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm sơ cấp tại Phú Yên và chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm đại học tại Phú Yên. Mỗi mảng đi theo một hệ văn bản riêng. Đọc điều khoản trước khi đóng tiền.
Tiền bỏ ra cho một tấm giấy sai trình độ là khoản khó thu lại, vì nơi tiếp nhận hồ sơ sẽ đối chiếu với danh sách trong thông tư chứ không đối chiếu với lời giới thiệu. Kiểm trước chỉ mất vài phút. Cần trao đổi thêm thì liên hệ qua trang liên hệ.
Các thắc mắc phổ biến
Giảng viên cao đẳng cần chứng chỉ bồi dưỡng chuẩn nghề nghiệp gì?
Điểm e khoản 2 Điều 6 Thông tư 25/2026/TT-BGDĐT yêu cầu chứng chỉ bồi dưỡng chuẩn nghề nghiệp giảng viên cao đẳng. Đây là tấm giấy khác với chứng chỉ bồi dưỡng chuẩn nghề nghiệp giáo viên trung cấp tại Thông tư 24/2026/TT-BGDĐT.
Muốn dạy trình độ trung cấp thì cần những gì?
Khoản 1 Điều 22 Luật Giáo dục nghề nghiệp số 124/2025/QH15 đòi bằng cử nhân trở lên với người dạy lý thuyết và bằng cao đẳng trở lên với người dạy thực hành. Khoản 3 cùng điều đòi năng lực sư phạm với người không tốt nghiệp ngành đào tạo giáo viên. Khoản 4 Điều 11 Thông tư 24/2026/TT-BGDĐT đòi thêm chứng chỉ bồi dưỡng chuẩn nghề nghiệp giáo viên trung cấp.
Bài viết cập nhật ngày 20/8/2026, căn cứ Điều 6, Điều 21, Điều 22 và Điều 23 Luật Giáo dục nghề nghiệp số 124/2025/QH15 cùng bốn thông tư năm 2026. Bản gốc đọc ở Công báo Chính phủ.
