Chứng Chỉ Nghiệp Vụ Sư Phạm Dạy Nghề Tại Đồng Nai 2026: Luật Giáo Dục Nghề Nghiệp Mới Nói Gì

Trả lời nhanh: Ở Đồng Nai, câu hỏi hay gặp nhất là người tốt nghiệp ngành sư phạm có phải học thêm chứng chỉ dạy nghề không. Luật trả lời gọn trong một khoản, và câu trả lời là không. Từ 01/01/2026, hệ giáo dục nghề nghiệp có bốn chức danh giảng dạy theo Điều 21. Xác định đúng chức danh của mình rồi mới tra danh sách chứng chỉ, vì mỗi trình độ một danh sách. Với Đồng Nai, không có quy định riêng nào khác với các địa phương còn lại.

Phép thử mười giây với một lời rao

Điều đáng nói của chủ đề này là tấm giấy có tên trong luật. Cái khó nằm ở chỗ khác. Nó xuất hiện với tư cách một dòng trong danh sách được công nhận, và có hơn một danh sách như vậy. Một dòng trong danh sách, không hơn. Câu trả lời tồn tại, nên hãy hỏi. Tên có thật, vấn đề là phạm vi.

Chứng chỉ được công nhận đáp ứng tiêu chuẩn về năng lực sư phạm dạy trình độ trung cấp quy định tại Thông tư này bao gồm các chứng chỉ sau trở lên: a) Chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm dạy trình độ cao đẳng, trình độ trung cấp; Chứng chỉ sư phạm dạy nghề dạy trình độ trung cấp nghề, cao đẳng nghề; Chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm dạy nghề.

Khoản 7 Điều 13 của Thông tư 24/2026/TT-BGDĐT, chia làm điểm a và điểm b.

Danh sách của cao đẳng ngắn hơn

Một tấm chứng chỉ có thể đủ điều kiện cho trình độ này mà chưa đủ cho trình độ kia. Đó là kết quả trực tiếp của việc hai thông tư liệt kê hai danh sách khác nhau. Danh sách đóng, không phải gợi ý. Trung cấp không tự động sang cao đẳng. Hai danh sách, không phải một.

Chứng chỉ được công nhận đáp ứng tiêu chuẩn về năng lực sư phạm dạy trình độ cao đẳng quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 6, điểm d khoản 2 Điều 7 và điểm d khoản 2 Điều 8 Thông tư này bao gồm các chứng chỉ sau trở lên: Chứng chỉ sư phạm dạy nghề dạy trình độ trung cấp nghề, cao đẳng nghề; Chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm dạy trình độ cao đẳng, dạy trình độ trung cấp; Chứng chỉ sư phạm dạy nghề; Chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm dạy trình độ cao đẳng; Chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giảng viên đại học, cao đẳng; Chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giảng viên trong cơ sở giáo dục đại học.

Trích Thông tư 25/2026/TT-BGDĐT, phần liệt kê chứng chỉ được công nhận cho trình độ cao đẳng.

Tên chứng chỉ Dạy trình độ trung cấp Dạy trình độ cao đẳng
Chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm dạy trình độ cao đẳng, trình độ trung cấp được công nhận được công nhận
Chứng chỉ sư phạm dạy nghề dạy trình độ trung cấp nghề, cao đẳng nghề được công nhận được công nhận
Chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm dạy nghề được công nhận được công nhận, văn bản ghi là chứng chỉ sư phạm dạy nghề
Chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm dạy trình độ trung cấp được công nhận không có tên trong danh sách
Chứng chỉ bồi dưỡng sư phạm bậc 2 được công nhận không có tên trong danh sách
Chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm giáo viên trung cấp chuyên nghiệp được công nhận không có tên trong danh sách
Bảng đối chiếu danh sách chứng chỉ được công nhận cho trình độ trung cấp và trình độ cao đẳng theo Thông tư 24/2026/TT-BGDĐT và Thông tư 25/2026/TT-BGDĐT
Nhầm hai cột này là mua nhầm tấm giấy.

Ngày 09/4/2026 có hai thông tư cùng ra và cùng có hiệu lực ngay. Thông tư 24/2026/TT-BGDĐT dành cho giáo viên sơ cấp và giáo viên trung cấp, Thông tư 25/2026/TT-BGDĐT dành cho giảng viên cao đẳng. Tra nhầm bản là tra nhầm danh sách. Ba tấm chỉ có ở bản trung cấp là chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm dạy trình độ trung cấp, chứng chỉ bồi dưỡng sư phạm bậc 2 và chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm giáo viên trung cấp chuyên nghiệp.

Khoản 3 Điều 22 và mệnh đề trong ngoặc

Người đọc quen với cách nghĩ có giấy là xong sẽ thấy phần này hơi lạ. Nhưng nó chính là chỗ bảo vệ người học, vì nó buộc mọi tấm giấy phải quy được về một danh sách công khai. Gắn với một trình độ cụ thể. Miễn cho người học ngành sư phạm. Giấy là cách chứng minh thôi.

Giảng viên, giáo viên quy định tại khoản 1 Điều này nếu không tốt nghiệp ngành đào tạo giáo viên thì phải có năng lực sư phạm phù hợp với trình độ giảng dạy.

Khoản 3 Điều 22 Luật Giáo dục nghề nghiệp số 124/2025/QH15, phần về năng lực sư phạm.

Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định bằng cử nhân hoặc văn bằng trình độ tương đương trở lên một số ngành đào tạo của giáo dục đại học được dạy thực hành; năng lực sư phạm và năng lực thực hành nghề của giảng viên, giáo viên; chương trình bồi dưỡng năng lực sư phạm và khung chương trình bồi dưỡng năng lực thực hành nghề; việc đánh giá, công nhận năng lực sư phạm, năng lực thực hành nghề; tiêu chuẩn cơ sở thực hiện bồi dưỡng và đánh giá.

Khoản 6 Điều 22 Luật Giáo dục nghề nghiệp số 124/2025/QH15, phần giao việc cho Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Từ ngày 01/01/2026, Luật Giáo dục nghề nghiệp số 124/2025/QH15 thay cho Luật Giáo dục nghề nghiệp số 74/2014/QH13. Điều 22 của quyển luật mới đặt ra trình độ chuẩn được đào tạo cho cả bốn chức danh, và khoản 6 của điều này giao lại cho Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo bảy nhóm việc, trong đó có tiêu chuẩn cơ sở thực hiện bồi dưỡng và đánh giá. Nhóm việc ấy tới ngày 20/8/2026 chưa có văn bản. Riêng quyền và nghĩa vụ của người cơ hữu thì khoản 1 Điều 23 dẫn sang Luật Nhà giáo.

Xác định mình đứng ở vai nào

Người đọc nên tách hai câu hỏi. Mình dạy chương trình nào, và mình làm việc theo hình thức nào. Câu đầu quyết định bộ chuẩn, câu sau quyết định chế độ. Trường nào không quyết định vai nào. Bốn vai, chia theo chương trình. Mỗi vai một bộ chuẩn.

Giảng viên, giáo viên quy định tại khoản 1 Điều này bao gồm: giảng viên và giáo viên cơ hữu, giảng viên đồng cơ hữu, giảng viên và giáo viên hợp đồng toàn thời gian sau khi nghỉ hưu, giảng viên và giáo viên thỉnh giảng.

Trích nguyên văn phần chức danh tại Luật Giáo dục nghề nghiệp số 124/2025/QH15.

Khoản 1 Điều 21 đứng trước đó gọi tên bốn vai theo chương trình được phân công giảng dạy, gồm giảng viên cao đẳng, giáo viên trung học nghề, giáo viên trung cấp và giáo viên sơ cấp. Điều 21 vì thế là điều phải đọc trước. Định vị mình trước đã. Hỏi mình dạy chương trình gì.

Sơ đồ bốn chức danh giảng dạy và vai người dạy nghề theo Điều 21 Luật Giáo dục nghề nghiệp số 124/2025/QH15
Bốn chức danh chia theo chương trình được phân công giảng dạy.

Khoản 4 Điều 21 và ranh giới của nó

Vai này gắn với nơi làm việc chứ không gắn với trường. Luật nói rõ là giảng dạy và hướng dẫn thực hành tại doanh nghiệp, hợp tác xã. Nơi làm việc là chỗ phân biệt. Vai này nằm ngoài bốn chức danh. Hai cụm từ, hai thứ khác nhau.

Người dạy nghề là nhân sự khác theo quy định của Luật Giáo dục thực hiện nhiệm vụ giảng dạy, hướng dẫn thực hành tại doanh nghiệp, hợp tác xã để thực hiện các chương trình giáo dục nghề nghiệp.

Nguyên văn khoản 4 Điều 21 Luật Giáo dục nghề nghiệp số 124/2025/QH15.

Đọc thêm khoản 3 Điều 6 thì ranh giới rõ hơn. Danh sách văn bằng, chứng chỉ mà cơ sở hoạt động giáo dục nghề nghiệp được cấp gồm năm loại, và cả năm đều dành cho người học nghề. Tấm chứng chỉ sư phạm không có tên trong đó, vì nó là giấy chứng nhận hoàn thành một chương trình bồi dưỡng cho người đứng lớp. Đọc khoản 4 trước khi tìm lớp. Trong trường hay trong doanh nghiệp.

Vế thứ hai không có ngoại lệ nào

Cách trình bày của hai thông tư giống nhau tới từng câu, chỉ đổi tên chức danh. Điều đó cho thấy đây là một thiết kế có chủ đích chứ không phải chi tiết ngẫu nhiên. Hai vế, không phải một. Chương trình thứ hai chưa có. Tên hai tấm giấy khác nhau.

Giáo viên trung cấp hạng III, hạng II và hạng I phải có năng lực sư phạm dạy trình độ trung cấp (đối với giáo viên không tốt nghiệp ngành đào tạo giáo viên); có chứng chỉ bồi dưỡng chuẩn nghề nghiệp giáo viên trung cấp. Việc đánh giá, công nhận năng lực sư phạm thực hiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Trích nguyên văn hai vế điều kiện tại Thông tư 24/2026/TT-BGDĐT.

Nhánh cao đẳng có cấu trúc y hệt. Điểm đ khoản 2 Điều 6 Thông tư 25/2026/TT-BGDĐT đòi năng lực sư phạm dạy trình độ cao đẳng, điểm e ngay sau đó đòi chứng chỉ bồi dưỡng chuẩn nghề nghiệp giảng viên cao đẳng. Cả ba bậc của nhánh này đều chịu hai điểm ấy. Vế sau không có ngoại lệ. Đọc hết khoản rồi hãy kết luận.

Điều khoản chuyển tiếp nói gì

Điểm dễ nhớ là cả hai thông tư dùng chung một bộ mốc. Khoản 1, khoản 2 và khoản 3 của Điều 13 Thông tư 24 nói y hệt khoản 1, khoản 2 và khoản 3 của Điều 9 Thông tư 25. Ba mốc, ba nhóm người. Giữ lại quyết định tuyển dụng. Đồng hồ thứ ba chưa chạy.

Trường hợp chưa có chứng chỉ bồi dưỡng quy định tại khoản 1 Điều này thì phải hoàn thiện đáp ứng yêu cầu về chứng chỉ bồi dưỡng chuẩn nghề nghiệp giáo viên sơ cấp hoặc giáo viên trung cấp trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày chương trình bồi dưỡng chuẩn nghề nghiệp giáo viên sơ cấp, giáo viên trung cấp có hiệu lực thi hành.

Điểm b khoản 3 Điều 13 của Thông tư 24/2026/TT-BGDĐT, điều khoản chuyển tiếp.

Ba con số của điều khoản chuyển tiếp là 09/4/2026, 31/12/2026 và 12 tháng. Mốc đầu chia người trong nghề thành nhóm được miễn và nhóm phải làm. Mốc giữa quyết định một tấm giấy cũ còn được tính tương đương hay không. Còn thời hạn cuối tính từ ngày chương trình bồi dưỡng chuẩn nghề nghiệp có hiệu lực, nên tới nay vẫn chưa khởi động.

Bảng bốn mốc thời gian của mảng chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm dạy nghề năm 2026
Ngày 09/4/2026 chia người trong nghề làm hai nhóm.

Năng lực thực hành nghề thay cho văn bằng

Vế văn bằng của người dạy thực hành có thể thay bằng năng lực thực hành nghề. Danh sách giấy tờ được công nhận cho vế này dài hơn nhiều người tưởng. Tay nghề cũng là căn cứ. Hai vế vẫn phải chứng minh riêng. Cao đẳng cao hơn một bậc.

Nhóm giấy tờ Ví dụ Căn cứ
Danh hiệu nhà nước Nghệ nhân ưu tú, Thầy thuốc ưu tú trở lên khoản 5 Điều 13 Thông tư 24/2026/TT-BGDĐT
Kỹ năng nghề trong nước chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia, chứng nhận bậc thợ khoản 5 Điều 13 Thông tư 24/2026/TT-BGDĐT
Văn bằng nghề bằng tốt nghiệp cao đẳng nghề, chứng chỉ kỹ năng thực hành nghề trình độ cao đẳng nghề khoản 5 Điều 9 Thông tư 25/2026/TT-BGDĐT
Giấy phép hành nghề chứng chỉ hành nghề, giấy chứng nhận khả năng chuyên môn của thuyền viên theo Công ước STCW khoản 5 Điều 13 Thông tư 24/2026/TT-BGDĐT
Bảng ngưỡng năng lực thực hành nghề để dạy thực hành trình độ trung cấp và trình độ cao đẳng theo Thông tư 24/2026/TT-BGDĐT và Thông tư 25/2026/TT-BGDĐT
Bốn nhóm giấy tờ được công nhận.

Chương trình các cơ sở đang giảng dạy vẫn là chương trình 280 giờ của Phụ lục I Thông tư 06/2022/TT-BLĐTBXH, dành cho người dạy trình độ cao đẳng và trình độ trung cấp. Văn bản này tới ngày 20/8/2026 chưa bị thay thế.

Một trình độ chỉ còn một chức danh

Việc gộp này giải thích vì sao chuẩn nghề nghiệp mới lại tách vế năng lực sư phạm khỏi vế năng lực thực hành nghề. Một chức danh, hai vế điều kiện. Mã số nối chuẩn với lương. Hai mã cũ đã rời bảng. Một trình độ, một chức danh.

Nhánh Cách gọi ba bậc Ba mã số
Trung cấp hạng III, hạng II, hạng I V.09.02.07, V.09.02.06, V.09.02.05
Cao đẳng giảng viên, giảng viên chính, giảng viên cao cấp V.09.02.03, V.09.02.02, V.09.02.01
Căn cứ khoản 7 và khoản 8 Điều 2 Thông tư 31/2026/TT-BGDĐT
Hiệu lực ngày 14/4/2026
Bảng mã số chức danh và hệ số lương của giáo viên trung cấp và giảng viên cao đẳng theo Thông tư 31/2026/TT-BGDĐT
Mỗi trình độ nay chỉ còn một chức danh.

Bảng mã hiện hành nằm ở Điều 2 Thông tư 31/2026/TT-BGDĐT, hiệu lực từ ngày 14/4/2026. Bậc đầu của nhánh trung cấp mang mã số V.09.02.07, bậc đầu của nhánh cao đẳng mang mã số V.09.02.03. Người từng được bổ nhiệm theo mã V.09.02.08 hoặc V.09.02.04 nay chuyển sang hai mã đó. Hệ số lương lấy theo Nghị định 204/2004/NĐ-CP.

Toàn văn thông tư về mã số và xếp lương đăng tại Cổng Xây dựng chính sách, pháp luật. Mã số ghi trong quyết định bổ nhiệm.

Quỹ thời gian dành cho bồi dưỡng

Thông tư này cũng nhắc tới việc giảng dạy chương trình bồi dưỡng năng lực sư phạm, và xếp nó ngang với việc dạy trình độ cao đẳng. Đưa kế hoạch vào từ đầu năm học. Định mức khác nhau theo trình độ. Cùng tổng số tuần, chia khác nhau.

Điều 7 và Điều 8 Thông tư 05/2026/TT-BGDĐT đặt ra hai con số cho mỗi trình độ. Nhà giáo dạy cao đẳng làm 44 tuần với 32 tuần đứng lớp, định mức từ 350 đến 450 giờ chuẩn. Nhà giáo dạy trung cấp cũng 44 tuần nhưng 36 tuần đứng lớp, định mức từ 400 đến 510 giờ chuẩn. Thông tư này có hiệu lực từ ngày 12/02/2026.

Khoản 2 Điều 5 của thông tư đó quy định một giờ giảng lý thuyết là 45 phút và được tính bằng 01 giờ chuẩn, còn một giờ dạy tích hợp và một giờ dạy thực hành đều là 60 phút và cũng tính bằng 01 giờ chuẩn. Tuần bồi dưỡng là quỹ chính thức. Giờ chuẩn không bằng giờ đồng hồ.

Văn bản mới nhất, ban hành ngày 10/8/2026

Ngày 10 tháng 8 năm 2026 có thêm một chức danh mới được lập trong hệ giáo dục nghề nghiệp. Đây là văn bản mới nhất của mảng này tính tới thời điểm bài viết. Theo dõi văn bản mới định kỳ. Chức danh mới, mã số mới. Chưa lên Công báo nên dẫn dè dặt.

Văn bản mới nhất của mảng này là Thông tư 64/2026/TT-BGDĐT, ban hành và có hiệu lực từ ngày 10/8/2026, quy định mã số, chuẩn nghề nghiệp, bổ nhiệm, xếp lương và chế độ làm việc đối với giáo viên trung học nghề. Ba hạng của chức danh này mang mã số V.09.02.14, V.09.02.13 và V.09.02.12. Thông tư tới ngày 20/8/2026 chưa lên Công báo, nên phần dẫn ở đây chỉ gồm chi tiết mà hai nguồn báo chí độc lập cùng nêu.

Hai bản tin cùng đưa nội dung này là bài đăng ngày 16/8/2026 trên Báo Chính phủbài đăng ngày 15/8/2026 trên Báo Tin tức. Văn bản mới nhất của mảng này.

Hệ thống đang cần người đứng lớp đạt chuẩn

Con số nói rõ hơn lời rao. Đặt chỉ tiêu tuyển sinh cạnh số cơ sở đào tạo là hình dung được áp lực về đội ngũ giảng dạy. Nhánh trung cấp và cao đẳng nhỏ hơn. Con số nói rõ hơn lời rao. Số của cả nước, không theo tỉnh.

Chỉ số Con số
Trường cao đẳng và trung cấp công lập 373
Chỉ tiêu tuyển sinh giáo dục nghề nghiệp năm 2026 khoảng 2,1 triệu người
Trong đó trình độ trung cấp và cao đẳng khoảng 450.000 người
Trình độ sơ cấp và đào tạo thường xuyên khoảng 1,7 triệu người
Tốt nghiệp năm 2025 khoảng 1,8 triệu người

Các con số trên lấy từ bản tin ngày 04/7/2026 về hội nghị phát triển giáo dục nghề nghiệp năm 2026, dẫn phát biểu của Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng Sở Giáo dục và Đào tạo Thành phố Hồ Chí Minh. Không có thống kê tách riêng đội ngũ nhà giáo theo từng tỉnh. Đây là nhu cầu thật của hệ thống.

Đồng Nai giữ tên sau khi nhận thêm địa bàn Bình Phước

Khoản 17 Điều 1 Nghị quyết 202/2025/QH15 sắp xếp tỉnh Bình Phước và tỉnh Đồng Nai thành một tỉnh mới, lấy tên là tỉnh Đồng Nai. Không có quy định riêng cho tỉnh nào. Địa giới đổi, điều kiện không đổi.

Tỉnh sau sắp xếp có diện tích 12.737,18 km² và dân số 4.491.408 người. Các trường trên địa bàn giữ nguyên hoạt động đào tạo. Việc xếp lại vị trí việc làm trong trường thì theo luật chuyên ngành, không theo nghị quyết về địa giới. Nghị quyết vẽ lại bản đồ, không vẽ lại chuẩn. Hồ sơ đổi tên tỉnh thôi.

Sơ đồ Đồng Nai và Bình Phước hợp thành tỉnh Đồng Nai theo Nghị quyết 202/2025/QH15
Theo Nghị quyết 202/2025/QH15. Địa giới đổi thì tên tỉnh trong hồ sơ đổi, còn điều kiện giữ nguyên.

Xem thêm bài cùng chủ đề tại TP. Hồ Chí Minh, Bình Phước, Gia Lai. Thông tư áp chung cả nước.

Người tốt nghiệp ngành đào tạo giáo viên được miễn vế năng lực sư phạm

Điều kiện này có một mệnh đề mở ngoặc rất quan trọng. Một câu hỏi mất mười giây. Đi từ cơ sở đào tạo, đừng đi từ quảng cáo.

Khoản 3 Điều 22 Luật Giáo dục nghề nghiệp số 124/2025/QH15 chỉ đặt yêu cầu năng lực sư phạm cho người không tốt nghiệp ngành đào tạo giáo viên. Cùng mệnh đề đó lặp lại ở khoản 4 Điều 11 Thông tư 24/2026/TT-BGDĐT và ở điểm đ khoản 2 Điều 6 Thông tư 25/2026/TT-BGDĐT. Người ở Đồng Nai đã có bằng cử nhân sư phạm rồi thì phần này coi như xong, và khoản tiền bỏ ra cho một khóa nghiệp vụ sư phạm dạy nghề là khoản không cần thiết. Vế còn lại về chứng chỉ bồi dưỡng chuẩn nghề nghiệp thì vẫn áp dụng cho mọi trường hợp. Biết mình thiếu vế nào đã. Số hiệu văn bản là thứ cần nhất.

Các mảng liên quan cùng địa bàn gồm chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm tại Đồng Nai, chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm sơ cấp tại Đồng Naichứng chỉ nghiệp vụ sư phạm đại học tại Đồng Nai. Mỗi mảng đi theo một hệ văn bản riêng. Đọc điều khoản trước khi đóng tiền.

Tiền bỏ ra cho một tấm giấy sai trình độ là khoản khó thu lại, vì nơi tiếp nhận hồ sơ sẽ đối chiếu với danh sách trong thông tư chứ không đối chiếu với lời giới thiệu. Kiểm trước chỉ mất vài phút. Cần trao đổi thêm thì liên hệ qua trang liên hệ.

Hỏi và đáp về điều kiện giảng dạy

Tốt nghiệp ngành sư phạm có phải học chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm dạy nghề không?

Khoản 3 Điều 22 Luật Giáo dục nghề nghiệp số 124/2025/QH15 chỉ yêu cầu năng lực sư phạm với người không tốt nghiệp ngành đào tạo giáo viên. Người đã tốt nghiệp ngành đào tạo giáo viên không thuộc diện này.

Có tay nghề cao nhưng không có bằng thì dạy được không?

Khoản 2 Điều 22 Luật Giáo dục nghề nghiệp số 124/2025/QH15 cho phép thay bằng năng lực thực hành nghề phù hợp với trình độ giảng dạy. Khoản 5 Điều 13 Thông tư 24/2026/TT-BGDĐT liệt kê các giấy tờ được công nhận, gồm chứng nhận bậc thợ 4 trên 7 hoặc 3 trên 6 trở lên.


Cập nhật ngày 20/8/2026. Bài dẫn Luật Giáo dục nghề nghiệp số 124/2025/QH15, Thông tư 24/2026/TT-BGDĐT, Thông tư 25/2026/TT-BGDĐT, Thông tư 31/2026/TT-BGDĐT và Thông tư 05/2026/TT-BGDĐT. Toàn văn luật xem tại Công báo Chính phủ.

Tư Vấn Chương Trình (24/7): 083 906 1718 Nhóm Lịch Học: Vừa học Vừa làm - Từ xa
Sơ Cấp - Trung cấp - Cao đẳng - Đại Học
Nhóm Đơn hàng Xuất Khẩu Lao Động
Công Ty Uy Tín KHÔNG Qua Môi Giới
Nhóm Thông tin Học Bổng Du Học 2025
Hỗ Trợ 1:1 Săn Học Bổng Toàn Phần