Trả lời nhanh: Khánh Hòa có nhiều lao động từng làm việc hoặc học nghề ở nước ngoài rồi trở về, nhất là trong nghề du lịch và nghề biển. Bằng cấp nước ngoài của họ có chỗ đứng cụ thể trong quy định mới. Toàn bộ căn cứ trong bài lấy từ bản đăng Công báo, có dẫn số điều và số khoản. Mục về Khánh Hòa trong bài dẫn đúng khoản của Nghị quyết 202/2025/QH15.
Thông tư 24/2026 và chức danh giáo viên sơ cấp
Điểm đáng chú ý là ai ban hành. Trước đây nhánh giáo dục nghề nghiệp thuộc Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội. Chuẩn nghề nghiệp của giáo viên sơ cấp bây giờ do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành, căn cứ Luật Nhà giáo số 73/2025/QH15. Chức danh có mã số.
Chức danh nào có mã số thì có bảng lương. Khoản 6 Điều 2 Thông tư 31/2026/TT-BGDĐT đặt ba mã V.09.02.09, V.09.02.10 và V.09.02.11 cho ba hạng của giáo viên sơ cấp, hiệu lực từ ngày 14/4/2026. Từ 09/4/2026 đã khác.
| Hạng chức danh | Mã số | Mức độ trong nhiệm vụ | Hệ số lương |
|---|---|---|---|
| Hạng III | V.09.02.09 | Tham gia | 1,86 đến 4,06 |
| Hạng II | V.09.02.10 | Chủ trì hoặc tham gia | 2,34 đến 4,98 |
| Hạng I | V.09.02.11 | Chủ trì | 4,00 đến 6,38 |

Khoản 4 Điều 8 đòi hai tấm giấy, không phải một
Nếu một nơi quảng cáo khóa học của họ đáp ứng toàn bộ chuẩn nghề nghiệp giáo viên sơ cấp thì nên hỏi lại họ đang nói vế nào của khoản 4 Điều 8. Một khóa 96 giờ theo Thông tư 06/2022/TT-BLĐTBXH giải quyết vế năng lực sư phạm, không giải quyết cả hai. Vế nào cũng phải đủ.
Giáo viên sơ cấp hạng III, hạng II và hạng I phải có năng lực sư phạm dạy trình độ sơ cấp (đối với giáo viên không tốt nghiệp ngành đào tạo giáo viên); có chứng chỉ bồi dưỡng chuẩn nghề nghiệp giáo viên sơ cấp. Việc đánh giá, công nhận năng lực sư phạm thực hiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Theo khoản 4 Điều 8 Thông tư 24/2026/TT-BGDĐT, hiệu lực 09/4/2026
Câu trên nằm trong Thông tư 24/2026/TT-BGDĐT, văn bản có hiệu lực từ ngày 09/4/2026. Hai tấm, không phải một. Đọc lướt là nhầm ngay.
| Tên tấm giấy | Căn cứ | Tình trạng |
|---|---|---|
| Chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm dạy trình độ sơ cấp | Điểm a khoản 8 Điều 13 Thông tư 24/2026/TT-BGDĐT | Có tên trong danh sách được công nhận |
| Chứng chỉ bồi dưỡng chuẩn nghề nghiệp giáo viên sơ cấp | Khoản 4 Điều 8 Thông tư 24/2026/TT-BGDĐT | Chưa tra được chương trình |
| Chứng chỉ bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp | Khoản 1 Điều 13 Thông tư 24/2026/TT-BGDĐT | Cấp trước 31/12/2026 thì tương đương |

Tên nào nằm trong danh sách, tên nào không
Người đã học từ nhiều năm trước nên đối chiếu tên in trên phôi chứng chỉ với ba tên gọi ấy trước khi lo phải học lại. Rất nhiều trường hợp tấm giấy cũ vẫn nằm trong danh sách, chỉ là tên gọi khác với cách nói bây giờ. Cầm phôi lên đối chiếu.
Chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm dạy trình độ sơ cấp. Chứng chỉ sư phạm dạy nghề dạy trình độ sơ cấp nghề. Chứng chỉ bồi dưỡng sư phạm bậc 1.
Theo điểm a khoản 8 Điều 13 Thông tư 24/2026/TT-BGDĐT
Điểm b của cùng khoản dẫn chiếu sang danh sách của trình độ trung cấp ở khoản 7, nên chứng chỉ bậc cao dùng thay được cho bậc thấp. Ba tên gọi, cùng giá trị. Chiều ngược thì không.
Đọc điều khoản chuyển tiếp trước khi lo
Mốc 31 tháng 12 năm 2026 ở khoản 1 áp dụng cho chứng chỉ bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp. Cấp trước mốc đó thì được xác định tương đương. Đây là mốc duy nhất trong Điều 13 gắn với một ngày cụ thể trong tương lai gần. Trước mốc thì được miễn.
Chứng chỉ bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp các hạng viên chức chuyên ngành giáo dục nghề nghiệp hoặc chứng chỉ bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp viên chức chuyên ngành giáo dục nghề nghiệp theo quy định của pháp luật được cấp trước ngày 31 tháng 12 năm 2026 được xác định tương đương với chứng chỉ bồi dưỡng chuẩn nghề nghiệp giáo viên sơ cấp hoặc giáo viên trung cấp quy định tại Thông tư này.
Điều khoản chuyển tiếp, khoản 1 Điều 13 Thông tư 24/2026/TT-BGDĐT
Điều khoản chuyển tiếp cắt bớt lo lắng cho nhiều người. Giáo viên trong cơ sở hoạt động giáo dục nghề nghiệp được tuyển dụng, tiếp nhận hoặc thay đổi vị trí việc làm sang vị trí việc làm giáo viên sơ cấp, giáo viên trung cấp trước ngày Thông tư này có hiệu lực thi hành thì không yêu cầu đáp ứng tiêu chuẩn có chứng chỉ bồi dưỡng chuẩn nghề nghiệp giáo viên sơ cấp hoặc giáo viên trung cấp tương ứng chức danh quy định tại Thông tư này. Ngày hiệu lực của thông tư là 09/4/2026. Xem mình thuộc nhóm nào.
Ba mốc thời gian của điều khoản chuyển tiếp: ngày 09/4/2026 phân định hai nhóm người, ngày 31/12/2026 là hạn cấp chứng chỉ bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp để được công nhận tương đương, và thời hạn 12 tháng tính từ ngày chương trình bồi dưỡng chuẩn nghề nghiệp có hiệu lực. Mốc là 09/4/2026.
Thợ bậc cao và nghệ nhân vào nghề dạy học
Với người đã có bằng trung cấp trở lên thì phần này không cần bận tâm, vì khoản 1 Điều 8 chấp nhận văn bằng như con đường mặc định. Danh sách năng lực thực hành nghề là lối đi thay thế, dành cho người có tay nghề mà thiếu bằng. Danh sách tra được hết.
Đối với hạng III: có bằng tốt nghiệp trung cấp trở lên hoặc có năng lực thực hành nghề để dạy trình độ sơ cấp phù hợp với ngành, nghề giảng dạy. Việc đánh giá, công nhận năng lực thực hành nghề thực hiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Theo khoản 1 Điều 8 Thông tư 24/2026/TT-BGDĐT trên Công báo
Danh sách giấy tờ được công nhận nằm ngay trong cùng một điều. Chứng nhận nghệ nhân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia bậc 1 trở lên. Chứng nhận bậc thợ 3/7 hoặc 2/6 trở lên. Khoản 6 còn kéo toàn bộ danh sách của khoản 5 xuống áp dụng cho trình độ sơ cấp. Hai vế khác nhau nhé. Bậc thợ cũng tính.
Sĩ số lớp và cách tính một giờ chuẩn
Con số dễ nhớ nhất là 46 tuần. Nhà giáo dạy trình độ sơ cấp làm việc 46 tuần một năm, trong khi nhà giáo dạy trung cấp và cao đẳng đều là 44 tuần. Chênh hai tuần, nhưng phần chênh nằm ở chỗ đáng chú ý hơn. Bốn tuần bồi dưỡng thôi.
Thời gian làm việc của nhà giáo dạy trình độ sơ cấp là 46 tuần, bao gồm 42 tuần thực hiện nhiệm vụ giảng dạy và 04 tuần tham gia học tập, bồi dưỡng, thực hiện hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, cập nhật nâng cao kỹ năng thực hành, tiếp cận công nghệ mới, dự giờ, trao đổi kinh nghiệm và các hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ khác.
Nguyên văn khoản 3 Điều 7 Thông tư 05/2026/TT-BGDĐT
Một giờ đứng lớp không phải lúc nào cũng là một giờ chuẩn. Một giờ chuẩn được tính đối với việc giảng dạy lý thuyết cho 01 lớp tối đa 35 học viên, học sinh, sinh viên. Giảng dạy thực hành hoặc kết hợp lý thuyết và thực hành cho 01 lớp tối đa 18 học viên, học sinh, sinh viên. Giảng dạy thực hành hoặc tích hợp các ngành, nghề học nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm theo danh mục do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành cho 01 lớp tối đa 10 học viên, học sinh, sinh viên. Đây là khoản 1 Điều 5 Thông tư 05/2026/TT-BGDĐT. Học trước rồi hãy dạy.
| Chỉ số của nhánh sơ cấp | Giá trị | So với hai nhánh còn lại |
|---|---|---|
| Số tuần làm việc | 46 tuần | Nhiều hơn 02 tuần |
| Số tuần giảng dạy | 42 tuần | Nhiều nhất |
| Số tuần bồi dưỡng | 04 tuần | Ít nhất |
| Định mức giờ chuẩn | 450 đến 580 | Cao nhất |

Vì sao doanh nghiệp cần phân biệt hai vai này
Hội đồng ấy có 05 hoặc 07 thành viên, đứng đầu là người đứng đầu hoặc cấp phó của cơ sở giáo dục nghề nghiệp. Thành phần bắt buộc có người ngoài cơ sở, là đại diện doanh nghiệp, hợp tác xã, hiệp hội ngành nghề hoặc chuyên gia trong lĩnh vực liên quan. Hai vai, hai văn bản.
Người dạy nghề bao gồm người được cơ sở hoạt động giáo dục nghề nghiệp mời giảng dạy, hướng dẫn thực hành một hoặc một số nội dung của chương trình đào tạo trong giáo dục nghề nghiệp tại doanh nghiệp, hợp tác xã, hoặc được doanh nghiệp mời, cử tham gia giảng dạy, hướng dẫn thực hành tại doanh nghiệp, hợp tác xã theo chương trình phối hợp.
Khoản 1 Điều 3 Thông tư 43/2026/TT-BGDĐT
Hội đồng có số lượng 05 hoặc 07 thành viên, bao gồm đại diện lãnh đạo cơ sở hoạt động giáo dục nghề nghiệp, nhà giáo có chuyên môn, nghiệp vụ phù hợp và đại diện doanh nghiệp, hợp tác xã hoặc đơn vị sự nghiệp, tổ chức hoạt động trong lĩnh vực của ngành, nghề đánh giá, hiệp hội ngành, nghề nếu có, hoặc chuyên gia trong lĩnh vực liên quan. Đây là khoản 3 Điều 7 Thông tư 43/2026/TT-BGDĐT, văn bản có hiệu lực từ ngày 09/6/2026. Phải có người ngoài.
Đọc kỹ Điều 7 thì thấy hai giới hạn. Khoản 1 Thông tư 43/2026/TT-BGDĐT chỉ cho cơ sở đánh giá ngành nghề thuộc nhóm đã được cấp phép. Điểm c khoản 3 đòi ủy viên có chuyên môn phù hợp và ít nhất 03 năm kinh nghiệm trực tiếp giảng dạy hoặc hoạt động trong ngành nghề tham gia đánh giá. Đường này chỉ cho một vai.
Tỉnh Khánh Hòa hiện nay gồm cả Ninh Thuận cũ
Khoản 13 Điều 1 Nghị quyết 202/2025/QH15 sắp xếp tỉnh Khánh Hòa và tỉnh Ninh Thuận thành một tỉnh mang tên tỉnh Khánh Hòa, diện tích 8.555,86 km², dân số 2.243.554 người. Một đầu mối thôi.
Dải ven biển kéo dài của tỉnh mới tập trung nhiều cơ sở đào tạo nghề khách sạn, nhà hàng và nghề thủy sản. Cơ quan quản lý giáo dục tỉnh Khánh Hòa theo dõi toàn bộ mạng lưới của cả hai vùng cũ. Hồ sơ ghi tên mới.

Xem thêm bài về chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm sơ cấp tại Phú Yên, Ninh Thuận, Đồng Tháp.
Chứng chỉ kỹ năng nghề của Đức, Úc, Malaysia đều có trong danh sách
Ba nước, ba mức được ghi tên. Hỏi trước khi nộp tiền.
Khoản 5 Điều 13 Thông tư 24/2026/TT-BGDĐT công nhận chứng chỉ kỹ năng nghề bậc 4 Khung trình độ quốc gia của Cộng hòa Liên bang Đức, chứng chỉ trình độ cao đẳng và cao đẳng nâng cao của Úc, và chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia bậc 3 của Malaysia trở lên là đáp ứng năng lực thực hành nghề. Khoản 6 kéo toàn bộ danh sách đó xuống áp dụng cho trình độ sơ cấp. Cùng khoản 5 còn có giấy chứng nhận khả năng chuyên môn của thuyền viên theo Công ước STCW, thứ khá phổ biến ở vùng biển này. Đọc văn bản gốc đi.
Thị trường đang rao gì và thiếu gì
Câu nên hỏi trước khi nộp tiền: khóa này đáp ứng vế nào của khoản 4 Điều 8 Thông tư 24/2026/TT-BGDĐT. Người bán hàng nắm nghề sẽ trả lời được ngay là vế năng lực sư phạm. Người chỉ đọc tờ rơi sẽ nói khóa của họ lo được cả hai vế, và đó là chỗ nên hỏi tiếp cho rõ. Đừng vội vì lời dọa.
Người muốn xem toàn cảnh bốn nhóm nhà giáo trước khi chọn nhánh có thể đọc bài tổng quan về chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm tại Khánh Hòa. Xem họ dẫn văn bản nào.
Bảng số của toàn bài, để bạn đối chiếu với bất kỳ trang nào khác. 96 giờ là độ dài chương trình theo Phụ lục II Thông tư 06/2022/TT-BLĐTBXH. 46 tuần là thời gian làm việc một năm và 450 đến 580 giờ chuẩn là định mức. Sĩ số tối đa để tính một giờ chuẩn là 35 người với lớp lý thuyết, 18 người với lớp thực hành và 10 người với nghề nặng nhọc. Hội đồng theo Thông tư 43/2026 có 05 hoặc 07 thành viên, ủy viên cần ít nhất 03 năm kinh nghiệm, và chứng chỉ cấp trong không quá 30 ngày. Hai phụ lục, đừng gộp.
Ba câu nên hỏi trước khi đóng tiền cho bất kỳ khóa nào. Khóa này theo phụ lục nào của Thông tư 06/2022, tên đầy đủ ghi trên phôi chứng chỉ là gì, và tấm giấy đó đáp ứng vế nào của khoản 4 Điều 8 Thông tư 24/2026. Cần trao đổi thêm về lộ trình học thì liên hệ qua trang liên hệ.
Những câu hỏi hay gặp nhất
Chứng chỉ kỹ năng nghề nước ngoài có được công nhận để dạy trình độ sơ cấp không?
Có, với ba loại được ghi tên tại khoản 5 Điều 13 Thông tư 24/2026/TT-BGDĐT: chứng chỉ kỹ năng nghề bậc 4 Khung trình độ quốc gia của Đức, chứng chỉ trình độ cao đẳng hoặc cao đẳng nâng cao của Úc, và chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia bậc 3 của Malaysia trở lên. Khoản 6 áp dụng danh sách này cho trình độ sơ cấp.
Có chứng chỉ sơ cấp thì dạy trình độ trung cấp được không?
Không. Khoản 8 Điều 13 Thông tư 24/2026/TT-BGDĐT cho chứng chỉ bậc cao dùng thay bậc thấp, không cho chiều ngược lại. Muốn dạy trình độ trung cấp thì cần chứng chỉ trong danh sách ở khoản 7 của cùng điều.
Bài viết cập nhật ngày 20/8/2026 theo bản đăng Công báo của Thông tư 24/2026/TT-BGDĐT, hiệu lực 09/4/2026.
